Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN BIÊN

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 16/2025/HS-ST

Ngày 18-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kim Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trịnh Minh Tường;
  2. Ông Trần Hữu Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Xuân Cường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thương Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 30 tháng 4 năm 1995 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện tại: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn R và bà Trần Thị V; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị P và 01 người con; tiền án, tiền sự: không có. Nhân thân: tại Quyết định số 185/QĐ-XPVPHC ngày 10/11/2013 của Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh xử phạt Nguyễn Văn T 1.500.000 đồng về hành vi “Trực tiếp xâm hại đến sức khỏe người khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”, đã hết thời hạn được xem là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/9/2024 chuyển tạm giam từ ngày 21/9/2024 cho đến nay, có mặt.

Bị hại:

Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1955; nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn B có mối quan hệ quen biết nên T nhiều lần đến nhà ông B tại địa chỉ khu phố G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để chơi. T biết ông B có nuôi Cầy vòi hương (Chồn hương) tại nhà và nảy sinh ý định bắt trộm. Khoảng 01 giờ 00 ngày 31/8/2024, T chuẩn bị kềm cộng lực, vợt lưới, túi lưới, đèn pin, giỏ xách rồi một mình điều khiển xe mô tô không biển số, mang theo các dụng cụ đã chuẩn bị, đi từ nhà của T thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đến trại nuôi Chồn hương của ông B. T điều khiển xe mô tô đến khu vực vườn mì, cách phía sau nhà ông B khoảng 100 mét, cất giấu xe trong vườn mì. Sau đó, T đi bộ ngang qua bên trong vườn mì, rồi dùng kềm cộng lực mang theo cắt lưới hàng rào giữa hai vườn mì tạo thành lối đi. T tiếp tục đi đến phía sau nhà ông B, dùng kềm cộng lực cắt lưới hàng rào B40 và đi đến khu vực nuôi nhốt Chồn hương. T quan sát thấy không có người trông coi nên dùng kềm cộng lực cắt lưới B40 bao quanh vách chuồng tạo thành lối vừa người chui vào, T chui qua lỗ lưới cắt vào bên trong chuồng bắt trộm 05 con Chồn hương bỏ vào các túi lưới đã chuẩn bị trước, sau đó T mang số Chồn hương lấy trộm được về nhà cất giấu.

Đến khoảng 01 giờ ngày 17/9/2024, T tiếp tục sử dụng dụng cụ và cách thức như lần thứ nhất đi đến nhà ông B để tiếp tục trộm Chồn hương. T tiếp tục dùng kềm cộng lực cắt lưới B40 bao quanh chuồng, cách vị trí cắt vụ trộm lần thứ nhất 05m60 để chui vào bên trong. Tại đây, T dùng vợt lưới mang theo vợt bắt được 08 con Chồn hương. Sau đó, T mang số chồn hương bắt được, cùng các dụng cụ chui ra khỏi trại và đem đến trại nuôi dê của anh Phạm Minh Đ, sinh năm 1980, nơi cư trú ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh cất giấu thì bị bắt khẩn cấp.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại là ông Nguyễn Văn B.

Kết quả định giá tài sản: tại Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 18/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện T, tỉnh Tây Ninh kết luận: 05 con cầy vòi hương, có tổng trọng lượng 14,1 kg. Trong đó có 04 con cầy vòi hương cái, có tổng trọng lượng 10,6 kg, 01 con cầy vòi hương đực có trọng lượng 3,5 kg, có giá 24.990.000 đồng. 08 con cầy vòi hương, có tổng trọng lượng 22,1 kg. Trong đó có 05 con cầy vòi hương cái, có tổng trọng lượng 13,1 kg, 03 con cầy vòi hương đực có trọng lượng 09 kg, có giá 31.840.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 56.830.000 đồng.

Kết luận giám định: tại Bản kết luận giám định số: 2388/KL-KTHS ngày 16/12/2024, của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: xe mô tô, số khung: VW100*10083482*, số máy: VTT14JL1P52FMH026462: số khung và số máy không bị đục xóa.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: 01 (một) kềm cộng lực bằng kim loại màu xanh bạc, có tay cầm ốp nhựa màu đen; 01 (một) vợt bằng kim loại có lưới màu xanh; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, số Imel: 868155051999137, gắn sim số 0365879216, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô không biển số, số khung: VW10010083482, số máy VTT14JL1P52FMH026462, đã qua sử dụng; kèm theo Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh T (bản gốc).

Kết quả kê biên tài sản: bị cáo Nguyễn Văn T không có tài sản riêng nên không tiến hành kê biên.

Trách nhiệm dân sự: bị cáo Nguyễn Văn T đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn B số tiền 110.000.000 đồng. Ông Nguyễn Văn B không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin bãi nại đối với T.

Bản Cáo trạng số 04/CT-VKSTB, ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 (hai) đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

Về bồi thường thiệt hại: ghi nhận bị hại ông Nguyễn Văn B không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.

Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố và không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: bị cáo Nguyễn Văn T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi của bị cáo thể hiện:

Bị cáo Nguyễn Văn T nhiều lần thực hiện hành vi lén lút bắt trộm Cầy vòi hương, là tài sản của ông Nguyễn Văn B được nuôi tại khu phố G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, cụ thể: vào khoảng 01 giờ 00 ngày 31/8/2024, bị cáo T đã bắt trộm của ông B 05 (năm) con Cầy vòi hương, có giá 24.990.000 đồng. Đến khoảng 01 giờ 00 ngày 16/9/2024, bị cáo T tiếp tục bắt trộm của ông B 08 (tám) con Cầy vòi hương,

31.840.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 56.830.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Bản Cáo trạng số 04/CT-VKSTB ngày 31/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: vụ án mang tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo hai lần thực hiện hành vi bắt trộm Cầy vòi hương của ông Nguyễn Văn B mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị cáo bị áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bị hại ông B xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo T.

Nhân thân: bị cáo Nguyễn Văn T đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính nên bị cáo có nhân thân xấu.

[5] Hình phạt chính: bị cáo Nguyễn Văn T biết rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện nhiều lần, chiếm đoạt tài sản với giá trị lớn. Do đó, cần áp dụng hình phạt chính là tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[6] Hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn T không có tài sản, không có khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.

[7] Trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Văn B không yêu cầu bị cáo T bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

01 (một) kềm cộng lực bằng kim loại màu xanh bạc, có tay cầm ốp nhựa màu đen; 01 (một) vợt bằng kim loại có lưới màu xanh là công cụ bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, số Imel: 868155051999137, gắn sim số 0365879216, đã qua sử dụng, không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên trả cho bị cáo Nguyễn Văn T;

01 (một) xe mô tô không biển số, số khung: VW10010083482, số máy VTT14JL1P52FMH026462, đã qua sử dụng; kèm theo Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh T (bản gốc) là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[9] Đối với ông Phạm Minh Đ là chủ trại dê nơi T cất giấu 08 con Chồn hương đã trộm được. Do thời điểm T cất giấu C hương ông Đ về quê ở miền B, cũng không biết việc T bắt trộm chồn hương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý là có căn cứ.

[10] Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”:

    Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 18/9/2024.

  2. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Trả cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, số Imel: 868155051999137, gắn sim số 0365879216, đã qua sử dụng nhưng giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.

    Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) kềm cộng lực bằng kim loại màu xanh bạc, có tay cầm ốp nhựa màu đen; 01 (một) vợt bằng kim loại có lưới màu xanh.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô không biển số, số khung: VW10010083482, số máy VTT14JL1P52FMH026462, đã qua sử dụng; kèm

theo Kết luận giám định số 2388/KL-KTHS ngày 16/12/2024 và bản ảnh giám định của Phòng K Công an tỉnh T (bản gốc).

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/01/2025).

  1. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  2. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV và THA -TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Tân Biên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Biên;
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Phòng PV06-Công an Tây Ninh;
  • - Phân trại tạm giam khu vực IX;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Kim Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị truy tố xét xử về tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger