|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày: 18/03/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hồng Thu.
- Bà Đặng Thị Thu Trang.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An: bà Vũ Thị Kiều – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2025/HSST ngày 04 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ tên: Lê Khắc T, tên gọi khác: không; sinh ngày 01/9/1995 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: khối G, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Bảo T1; sinh năm: 1960; con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1958; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 14/9/2024 cho đến nay. Có mặt tại Tòa.
2. Họ tên: Trần Văn S, tên gọi khác: không; sinh ngày 02/10/2000, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T2; sinh năm: 1974; con bà: Hoàng Thị H; sinh năm: 1978; Vợ: Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm: 2004; con: Có 02 con; lớn sinh năm 2022, nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú" từ ngày 14 tháng 9 năm 2024 cho đến nay. Có mặt tại tòa.
3. Họ tên: Hoàng Ngọc T3, tên gọi khác: không; sinh ngày 20/8/1985, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Ngọc K - đã chết; con bà: Nguyễn Thị H2, Sinh năm: 1953; Vợ: Trần Thị H3, sinh năm 1991; con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/9/2024 cho đến nay. Có mặt tại tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Khắc T: Ông Trần Duy V; sinh năm: 1994; thẻ luật sư số 18519 cấp ngày 22/8/2022; làm việc tại văn phòng L2 thuộc đoàn luật sư N1. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lê Khắc T: Ông Lê Bảo T1; sinh năm: 1960 và bà Nguyễn Thị L; sinh năm: 1958; cùng trú tại: khối G, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người bị hại: Công ty TNHH T6; địa chỉ: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T6: Bà Đặng Thị N; sinh năm: 1989; chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Đặng Thị N: Ông Nguyễn Bá T4; sinh năm: 1982; địa chỉ: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hồ Văn V1; sinh năm: 1994; địa chỉ: thôn A, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Anh Nguyễn Ngọc D; sinh năm: 1990; địa chỉ: Thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Khắc T là công nhân bốc vác, vận chuyển vật liệu xây dựng cho Công ty TNHH T6 (Sau đây viết tắt là Công ty T6) do chị Đặng Thị N, sinh năm 1989, trú tại: khối G, thị trấn C, huyện Q) làm chủ. Tứ thường xuyên được giao làm việc tại kho hàng của Công ty của chị N (Địa chỉ: thôn D, xã Q, huyện Q). Trong quá trình làm việc, từ tháng 7 đến tháng 8/2024, T đã lợi dụng việc được giao nhiệm vụ bốc xếp, vận chuyển hàng hóa để nhiều lần thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” là các hộp bìa các tông bên trong có chứa các thanh kim loại thường dùng làm khung trần thả ở tại kho hàng của Công ty T6. Sau đó đưa đến bán cho Trần Văn S, Hoàng Ngọc T3 để lấy tiền tiêu xài. Cụ thể:
- Lần thứ nhất: Vào khoảng đầu tháng 7/2024, khi T đang ở trụ sở chính của Công ty TNHH T6 thì nhận được tin nhắn trên nhóm Zalo của Công ty yêu cầu Tứ xuống kho hàng của Công ty để mở cửa kho và bốc hàng vào kho. Sau đó, T lấy chìa khóa kho treo tại giá thạch cao để ở phòng làm việc của chị Đặng Thị N, rồi điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đỏ, không có biển kiểm soát - là xe của anh T4 (chồng chị N) đến kho hàng của Công ty để bốc hàng từ xe vào kho. Sau khi bốc hàng xong, T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của Công ty để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên đi đến khu vực góc trong cùng bên phải và lấy trộm 01 (Một) hộp T360 nhãn hiệu Nanotech, 01 (Một) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech, 02 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech (hộp nguyên mới chưa bị bóc mở, bên trong mỗi hộp có các thanh kim loại dùng làm vật liệu thi công trần thả) rồi đưa đến bán toàn bộ cho Trần Văn S với giá 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), số tiền bán được Tứ tiêu xài cá nhân hết. Tuy nhiên, Trần Văn S chỉ thừa nhận đã mua của T 01 (Một) hộp T360 nhãn hiệu Nanotech, 01 (Một) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech với giá 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), số tài sản còn lại S không mua.
Tổng số tiền mà Lê Khắc T chiếm đoạt của công ty T6 ở lần này là 2.283.900₫ (Hai triệu hai trăm tám mươi ba nghìn chín trăm đồng).
- Lần thứ hai: Vào đầu tháng 7/2024, cách lần thứ nhất khoảng 01 đến 02 ngày, với cách thức như trên, Lê Khắc T đã lấy trộm tại Công ty T6 (Một) hộp V sơn nhãn hiệu Nanotech 360, 01 (Một) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech, 01 (Một) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech (hộp nguyên mới chưa bị bóc mở, bên trong mỗi hộp có các thanh kim loại dùng làm vật liệu thi công trần thả). Sau đó, T mang đến bán toàn bộ các tài sản trên cho Trần Văn S nhưng chưa thanh toán tiền. Tuy nhiên, S không nhớ đã mua cụ thể số lượng, chủng loại, nhưng chỉ nhớ có mua từ 02 đến 03 hộp.
Tổng số tiền mà Lê Khắc T chiếm đoạt của công ty T6 lần này là 1.706.400₫ (Một triệu bảy trăm linh sáu nghìn bốn trăm đồng).
- Lần thứ ba: Đầu tháng 7/2024, T đã lấy trộm tại Công ty T6 (Một) hộp T360 nhãn hiệu Nanotech (hộp nguyên mới chưa bị bóc mở, bên trong mỗi hộp có các thanh kim loại dùng làm vật liệu thi công trần thả). Sau đó đưa toàn bộ tài sản này đến bán cho Hoàng Ngọc T3 với số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Tổng số tiền mà Lê Khắc T chiếm đoạt của công ty T6 ở lần này là 762.800₫ (Bảy trăm sáu mươi hai nghìn tám trăm đồng).
- Lần thứ tư: Đầu tháng 7/2024, cũng với thủ đoạn tương tự như trên, T đã lấy trộm tại Công ty T6 (Một) hộp V sơn nhãn hiệu Nanotech 360, 01 (Một) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech, 02 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech (hộp nguyên mới chưa bị bóc mở, bên trong mỗi hộp có các thanh kim loại dùng làm vật liệu thi công trần thả). Sau đó, T đưa toàn bộ tài sản vừa trộm được đến bán cho Trần Văn S và chưa thanh toán tiền. Tuy nhiên, S không nhớ đã mua cụ thể số lượng, chủng loại, chỉ nhớ có mua từ 02 đến 03 hộp.
Tổng số tiền mà Lê Khắc T chiếm đoạt của công ty T6 ở lần này là 2.111.400₫(Hai triệu một trăm mười một nghìn bốn trăm đồng).
- Lần thứ năm: Cũng vào tháng 7/2024, T tiếp tục lấy tại Công ty T6 (Hai) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech, 02 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech (hộp nguyên mới chưa bị bóc mở, bên trong mỗi hộp có các thanh kim loại dùng làm vật liệu thi công trần thả). Sau đó mang toàn bộ số tài sản trên đến bán cho Trần Văn S và chưa thanh toán tiền. Tuy nhiên, S không nhớ đã mua cụ thể số lượng, chủng loại, chỉ nhớ có mua từ 02 đến 03 hộp.
Tổng số tiền mà Lê Khắc T chiếm đoạt của công ty T6 ở lần này là 2.232.200₫ (Hai triệu hai trăm ba mươi hai nghìn hai trăm đồng).
- Lần thứ sáu: Trong tháng 7/2024, Lê Khắc T đã lấy trộm tại Công ty T6 (Một) hộp V sơn nhãn hiệu Nanotech 360 (hộp nguyên mới chưa bị bóc mở, bên trong mỗi hộp có các thanh kim loại dùng làm vật liệu thu công trần thả). Sau đó đưa đến bán cho Hoàng Ngọc T3 với số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, T3 không thừa nhận đã mua của Tứ tài sản này mà chỉ thừa nhận đã mua 01 (Một) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech.
Tổng số tiền mà Lê Khắc T chiếm đoạt của công ty T6 ở lần này là 590.300₫ (Năm trăm chín mươi nghìn ba trăm đồng).
- Lần thứ bảy: Trong tháng 7/2024, T đã lấy trộm tại Công ty T6 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech, 02 (Hai) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech (hộp nguyên mới chưa bị bóc mở, bên trong mỗi hộp có các thanh kim loại dùng làm vật liệu thi công trần thả). Sau đó đưa toàn bộ đến bán cho Hoàng Ngọc T3 với số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, T3 chỉ thừa nhận đã mua của T 02 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Tổng số tiền mà Lê Khắc T chiếm đoạt của công ty T6 ở lần này là 2.232.200₫ (Hai triệu hai trăm ba mươi hai nghìn hai trăm đồng).
- Lần thứ tám: Vào khoảng cuối tháng 7/2024, với diễn biến và thủ đoạn tương tự như trên, T đã lấy trộm tại Công ty T6 (Hai) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech, 02 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech (hộp nguyên mới chưa bị bóc mở, bên trong mỗi hộp có các thanh kim loại dùng làm vật liệu thi công trần thả). Tứ khai nhận đã bán các tài sản trên cho Trần Văn S. Tuy nhiên, S chỉ thừa nhận đã mua của T 02 (Hai) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Còn 02 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech thì S không mua.
Tổng số tiền mà Lê Khắc T chiếm đoạt của công ty T6 ở lần này là 2.232.200₫ (Hai triệu hai trăm ba mươi hai nghìn hai trăm đồng).
- Lần thứ chín: Vào khoảng cuối tháng 7/2024, với cách thức thủ đoạn như trên, Lê Khắc T tiếp tục lấy trộm tại Công ty T6 (Một) hộp V sơn nhãn hiệu Nanotech 360, 01 (Một) hộp T360 nhãn hiệu Nanotech (hộp nguyên mới chưa bị bóc mở, bên trong mỗi hộp có các thanh kim loại dùng làm vật liệu thi công trần thả). Sau đó T mang toàn bộ số tài sản trên đến bán cho Trần Văn S nhưng chưa thanh toán tiền. Tuy nhiên, S chỉ thừa nhận đã mua của T 01 (Một) hộp T360 nhãn hiệu Nanotech và 01 (Một) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Còn số tài sản khác S không mua.
Tổng số tiền mà Lê Khắc T chiếm đoạt của công ty T6 ở lần này là 1.353.100₫ (Một triệu ba trăm năm mươi ba nghìn một trăm đồng).
- Lần thứ mười: Vào khoảng cuối tháng 7/2024, đầu tháng 8/2024, với cách thức thủ đoạn như trên, Lê Khắc T tiếp tục lấy trộm tại Công ty T6 (Một) hộp V sơn nhãn hiệu Nanotech 360, 01 (Một) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech và 02 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech (hộp nguyên mới chưa bị bóc mở, bên trong mỗi hộp có các thanh kim loại dùng làm vật liệu thi công trần thả). Sau khi lấy trộm tài sản, T mang toàn bộ tài sản vừa trộm cắp được bán cho Trần Văn S nhưng chưa thanh toán tiền. Tuy nhiên, S chỉ thừa nhận đã mua của T 01 (Một) hộp V sơn nhãn hiệu Nanotech 360 và đã trả số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Số tài sản còn lại S không mua.
Tổng số tiền mà Lê Khắc T chiếm đoạt của công ty T6 ở lần này là 2.111.400₫ (Hai triệu một trăm mười một nghìn bốn trăm đồng).
- Lần thứ mười một: Vào khoảng 10 giờ ngày 08/8/2024, với thủ đoạn như trên, T tiếp tục xuống kho hàng tại Công ty T6 và trộm cắp được 02 (Hai) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech, 02 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech (hộp nguyên mới chưa bị bóc mở, bên trong mỗi hộp có các thanh kim loại dùng làm vật liệu thi công trần thả) rồi mang toàn bộ số tài sản trên đến bán cho Trần Văn S. S đã trả cho T tổng số tiền của các lần bán chưa thanh toán là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng). Tuy nhiên, S không nhớ đã mua cụ thể số lượng, chủng loại, nhưng chỉ nhớ có mua từ 02 đến 03 hộp và đã trả tổng số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) cho T.
Tổng số tiền mà Lê Khắc T chiếm đoạt của công ty T6 ở lần này là 2.232.200₫ (Hai triệu hai trăm ba mươi hai nghìn hai trăm đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 744/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện Q kết luận:
- 01 (Một) hộp T360 nhãn hiệu Nanotech có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 762.800₫ (Bảy trăm sáu mươi hai nghìn tám trăm đồng);
- 01 (Một) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 711.100đ (Bảy trăm mười một nghìn một trăm đồng);
- 01 (Một) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 405.000đ (Bốn trăm linh năm nghìn đồng).
- 01 (Một) hộp V nhãn hiệu Nanotech 360 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 590.300đ (Năm trăm chín mươi nghìn ba trăm đồng);
Sau khi bị mất trộm tài sản, ngày 12/8/2024, anh Nguyễn Bá T4 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q trình báo sự việc.
Quá trình điều tra, nhận thấy Lê Khắc T có nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định tình trạng tâm thần của bị cáo Lê Khắc T.
Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 51/KLGĐ ngày 18/12/2024 của Phân Viện Pháp y tâm thần Bắc miền T - V2 đối với tình trạng tâm thần của Lê Khắc Tứ kết L1:
- Tại thời điểm trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và thời điểm giám định, Lê Khắc T bị bệnh: Rối loạn nhân cách dạng phân liệt, kèm theo nhiễm HIV, theo Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10), có mã bệnh là: B20/F60.1. (Có thiếu sự hiểu biết, thiếu nhạy cảm đối với các chuẩn mực, quy tắc xã hội).
- Tại tất cả các thời điểm trên, bị cáo Lê Khắc T đủ khả năng nhận thức nhưng hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
* Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Lê Khắc T đã tác động gia đình bồi thường cho anh Nguyễn Bá T4 số tiền 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng), đồng thời thoả thuận sẽ trừ số tiền công lao động là 19.200.000₫ (M chín triệu hai trăm nghìn đồng) mà Công ty TNHH T6 đang nợ Lê Khắc T. Tại phiên toà, bị cáo T khai nhận đại diện công ty T6 đã trả lại số tiền 6.351.900₫ (Sáu triệu ba trăm năm mươi mốt nghìn chín trăm đồng) cho bị cáo Lê Khắc T nên T không có yêu cầu gì thêm. Ngoài ra Công ty TNHH T6 không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.
Tại Cáo trạng số 09/CT-VKS-QL ngày 04 tháng 02 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã truy tố: Lê Khắc T về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Trần Văn S và Hoàng Ngọc T3 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo Lê Khắc T, Trần Văn S và Hoàng Ngọc T3 đã khai nhận hành vi mà các bị cáo đã thực hiện giống như nội dung bản cáo trạng và nội dung vụ án đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Khắc T phạm tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Văn S và Hoàng Ngọc T3 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
a) Về trách nhiệm hình sự:
+ Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Lê Khắc T từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Thời hạn thử thách của án treo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung.
+ Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Trần Văn S từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thửa thách từ 18 đến 24 tháng. Thời hạn thử thách của án treo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung.
+ Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc T3 từ 7 (bảy) đến 9 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập cá nhân cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS, đề nghị tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11, màu xám, số IMEI 1: 862280053168097, số IMEI 2: 862280053168089, đã cũ và qua sử dụng.
+ 07 (Bảy) thanh kim loại có cùng đặc điểm: hình chữ T, màu vàng trắng, có chiều dài từ 28cm đến 37cm thu giữ của Hoàng Ngọc T3.
+ 17 (Mười bảy) thanh kim loại hình chữ T nhãn hiệu Nanotech (loại T360); 01 thanh kim loại hình chữ V nhãn hiệu Nanotech (loại V sơn 360); 74 (Bảy mươi tư) thanh kim loại hình chữ T nhãn hiệu Nanotech (loại T120); 39 (Ba mươi chín) thanh kim loại hình chữ T nhãn hiệu Nanotech (loại T60); 01 (Một) thùng bìa cát tông nhãn hiệu Nanotech, bên trong có 40 thanh kim loại hình chữ V nhãn hiệu Nanotech (loại V sơn 360); 01 (Một) thùng bìa cát tông nhãn hiệu Nanotech, bên trong có 75 thanh kim loại hình chữ T nhãn hiệu Nanotech (loại T60) đều thu giữ của Trần Văn S.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên là hợp pháp.
[2]. Về chứng cứ xác định tội danh:
Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai tại phiên tòa và lời khai trong quá trình điều tra của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận định giá tài sản số 744/KL – HDĐGTS ngày 10/9/2024, phù hợp với vật chứng vụ án và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố và thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2024 đến ngày 08/8/2024, Lê Khắc T đã nhiều lần lén lút thực hiện trộm cắp tài sản tại kho hàng của Công ty TNHH T6 (Địa chỉ: thôn D, xã Q, huyện Q) do chị Đặng Thị N (địa chỉ: khối G, thị trấn C, huyện Q) làm chủ. Sau đó, đưa đi bán cho Trần Văn S, Hoàng Ngọc T3 và một số người khác để lấy tiền tiêu xài. Cụ thể:
- Lần thứ nhất: Vào khoảng đầu tháng 7 năm 2024, T lấy trộm 01 (Một) hộp T360 nhãn hiệu Nanotech, 01 (Một) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech, 02 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech có tổng giá trị là 2.283.900₫ (Hai triệu hai trăm tám mươi ba nghìn chín trăm đồng) rồi đưa toàn bộ tài sản đến bán cho Trần Văn S với giá 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Trần Văn S chỉ thừa nhận đã mua của T 01 (Một) hộp T360 nhãn hiệu Nanotech, 01 (Một) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech với giá 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
- Lần thứ hai: Đầu tháng 7/2024, cách lần thứ hai khoảng 01 - 02 ngày, T đã lấy trộm 01 (Một) hộp V sơn nhãn hiệu Nanotech 360, 01 (Một) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech, 02 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech có tổng giá trị 2.111.400₫ (Hai triệu một trăm mười một nghìn bốn trăm đồng). Sau đó, T đưa toàn bộ tài sản vừa trộm được đến bán cho Trần Văn S và chưa thanh toán tiền. Tuy nhiên, S không nhớ đã mua cụ thể số lượng, chủng loại, nhưng chỉ nhớ có mua từ 02 đến 03 hộp.
- Lần thứ ba: Tháng 7/2024, T tiếp tục lấy trộm của Công ty T6 (Hai) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech, 02 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech có tổng giá trị 2.232.200₫ (Hai triệu hai trăm ba mươi hai nghìn hai trăm đồng). Sau đó mang toàn bộ số tài sản trên đến bán cho Trần Văn S và chưa thanh toán tiền. Tuy nhiên, S không nhớ đã mua cụ thể số lượng, chủng loại, nhưng chỉ nhớ có mua từ 02 đến 03 hộp.
- Lần thứ tư: Đầu tháng 7/2024, T đã lấy trộm tại Công ty T6 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech, 02 (Hai) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech có tổng giá trị 2.232.200₫ (Hai triệu hai trăm ba mươi hai nghìn hai trăm đồng). Sau đó đưa toàn bộ đến bán cho Hoàng Ngọc T3 với số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, T3 chỉ thừa nhận đã mua của T 02 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
- Lần thứ năm: Vào khoảng cuối tháng 7/2024, T đã lấy trộm của Công ty T6 (Hai) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech, 02 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech có tổng giá trị 2.232.200₫ (Hai triệu hai trăm ba mươi hai nghìn hai trăm đồng) rồi đưa đến bán cho Trần Văn S nhưng chưa lấy tiền. Tuy nhiên, S chỉ thừa nhận đã mua của T 02 (Hai) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Còn 02 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech thì S không mua.
- Lần thứ sáu: Vào khoảng cuối tháng 7/2024, đầu tháng 8/2024, Lê Khắc T tiếp tục lấy trộm của Công ty T6 (Một) hộp V sơn nhãn hiệu Nanotech 360, 01 (Một) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech và 02 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech có tổng giá trị 2.111.400₫ (Hai triệu một trăm mười một nghìn bốn trăm đồng). Sau khi lấy trộm tài sản, T mang toàn bộ tài sản vừa trộm cắp được bán cho Trần Văn S nhưng chưa thanh toán tiền. Tuy nhiên, S chỉ thừa nhận đã mua của T 01 (Một) hộp V sơn nhãn hiệu Nanotech 360 và đã trả số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Số tài sản còn lại S không mua.
- Lần thứ bảy: Vào khoảng 10 giờ ngày 08/8/2024, T tiếp tục xuống kho hàng của Công ty T6 và trộm cắp 02 (Hai) hộp T120 nhãn hiệu Nanotech, 02 (Hai) hộp T60 nhãn hiệu Nanotech có tổng giá trị 2.232.200₫ (Hai triệu hai trăm ba mươi hai nghìn hai trăm đồng) rồi mang toàn bộ số tài sản trên đến bán cho Trần Văn S. S đã trả cho T tổng số tiền của các lần bán chưa thanh toán là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng). S không nhớ đã mua cụ thể số lượng, chủng loại nhưng chỉ nhớ có mua từ 02 đến 03 hộp và đã trả tổng số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) cho T.
Tổng giá trị tài sản mà Lê Khắc T chiếm đoạt của công ty TNHH T6 và phải chịu trách nhiệm hình sự trong những lần trộm cắp trên là 15.435.500₫ (Mười lăm triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm đồng). Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội do cố ý. Nên hành vi chiếm đoạt của công ty TNHH T6 số tiền 15.435.500₫ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Các bị cáo Trần Văn S, Hoàng Ngọc T3 mặc dù biết rõ những tài sản này do T trộm cắp mà có nhưng mua với giá thấp hơn so với giá thị trường nhằm thu lợi cá nhân. Trần Văn S phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền mà T chiếm đoạt ở các lần trộm cắp là 13.203.300₫ (Mười ba triệu hai trăm linh ba nghìn ba trăm đồng). Hoàng Ngọc T3 phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền mà T chiếm đoạt là 2.232.200₫ (Hai triệu hai trăm ba mươi hai nghìn hai trăm đồng).
Các bị cáo Trần Văn S và Hoàng Ngọc T3 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm lỗi do cố ý. Nên hành vi của các bị cáo S, T3 đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng. Các bị cáo là những người trực tiếp thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Bị cáo T lợi dụng sự sơ hở của người bị hại để lén lút trộm cắp tài sản. Hành vi trên của bị cáo T đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.
Hành vi của bị cáo S và bị cáo T3 xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, ngoài ra, còn gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là liều lĩnh, táo bạo, thể hiện sự xem thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4]. Đánh giá vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo trong vụ án:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Khắc T và bị cáo Trần Văn S phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Hoàng Ngọc T3 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Lê Khắc T, Trần Văn S, Hoàng Ngọc T3 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê Khắc T sau khi phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại, bản thân bị cáo T bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại b, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hoàng Ngọc T3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Có cha đẻ là Hoàng Ngọc K được chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì; Huy chương chiến sỹ giải phóng, Có ông bà nội là ông Hoàng T5 và bà Phạm Thị H4 được chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng K1. Bị cáo Trần Văn S tự nguyện bồi thường và khắc phục hậu quả cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo S, có ông ngoại là Hoàng Ngọc K được chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì; Huy chương chiến sỹ giải phóng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, khi xem xét lượng hình cần cho các bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật.
Xét: mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên khi xem xét lượng hình cần cho các bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà có thể xem xét áp dụng Điều 65 BLHS cho các bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương. Riêng bị cáo T3, phạm tội không có tình tiết tăng nặng, số tiền phạm tội ít. Nên có thể xem xét áp dụng Điều 36 BLHS cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương là nghiêm minh, đủ sức răn đe, giáo dục.
Mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa hôm nay đối với các bị cáo là phù hợp và nghiêm minh nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về khấu trừ thu nhập: Xét bị cáo T3 là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội thuộc điều luật có hình phạt bổ sung là hình phạt tiền nhưng các bị cáo đều là lao động tự do, thu nhập thấp lại không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[7]. Về xử lý vật chứng:
-Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11, màu xám, số IMEI 1: 862280053168097, số IMEI 2: 862280053168089, đã cũ và qua sử dụng. Đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với các tài sản của công ty T6 do các bị cáo Hoàng Ngọc T3, Trần Văn S giao nộp lại.
Theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự về tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm thì:
“1. Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp dụng đối với:
a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;
b) Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội;
c) Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành.
2. Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.”
Theo quy định trên thì vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép thì không thuộc trường hợp tịch thu sung vào ngân sách nhà nước mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.
Đồng thời, theo quy định tại Điều 194 của Bộ luật Dân sự thì: “Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản”.
Như vậy, dù đã được giải thích quyền được đòi lại tài sản bị chiếm đoạt nhưng bị hại có ý kiến không yêu cầu nhận lại tài sản do giá trị còn lại thấp, đồng thời đã nhận đủ số tiền đền bù và cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm và có đơn yêu cầu toà án tịch thu để sung quỹ nhà nước nên cần áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[8]. Về nghĩa vụ dân sự: Do Người bị hại đã nhận đủ số tiền đền bù, không ai có yêu cầu gì về mặt dân sự nên toà miễn xét.
[9]. Về các vấn đề khác: Theo lời khai của Lê Khắc T, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đã bán cho Nguyễn Ngọc D, Hồ Văn V1 nhưng D, V1 không thừa nhận. Quá trình điều tra, Lê Khắc T cũng không nhớ chính xác có bán hay không và bán những loại tài sản nào. Vì vậy, cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý Nguyễn Ngọc D, Hồ Văn V1 là đúng theo quy định của pháp luật.
[10]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Khắc T phạm tội "trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015; Các bị cáo Trần Văn S, Hoàng Ngọc T3 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự 2015.
2.Về hình phạt:
+ Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Lê Khắc T 12(mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24(hai tư) tháng. Thời hạn thử thách của án treo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
+ Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Trần Văn S 09(chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18(mười tám) tháng. Thời hạn thử thách của án treo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao UBND thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo Lê Khắc T trong thời gian thử thách.
Giao UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo Trần Văn S trong thời gian thử thách.
Giao cho gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục các bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vì phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
+ Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc T3 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cá nhân đối với bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Thời gian cải tạo không giam giữ của bị cáo Hoàng Ngọc T3 tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh N nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Hoàng Ngọc T3 cho UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11, màu xám, số IMEI 1: 862280053168097, số IMEI 2: 862280053168089.
- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước:
- 07 (Bảy) thanh kim loại có cùng đặc điểm: hình chữ T, màu vàng trắng, có chiều dài từ 28cm đến 37cm.
- 17 (Mười bảy) thanh kim loại hình chữ T nhãn hiệu Nanotech (loại T360); 01 thanh kim loại hình chữ V nhãn hiệu Nanotech (loại V sơn 360); 74 (Bảy mươi tư) thanh kim loại hình chữ T nhãn hiệu Nanotech (loại T120); 39 (Ba mươi chín) thanh kim loại hình chữ T nhãn hiệu Nanotech (loại T60); 01 (Một) thùng bìa cát tông nhãn hiệu Nanotech, bên trong có 40 thanh kim loại hình chữ V nhãn hiệu Nanotech (loại V sơn 360); 01 (Một) thùng bìa cát tông nhãn hiệu Nanotech, bên trong có 75 thanh kim loại hình chữ T nhãn hiệu Nanotech (loại T60).
(Đặc điểm chi tiết các loại vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 02 năm 2025, giữa Công an huyện Q và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải chịu mỗi bị cáo 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bào chữa cho bị cáo T, người đại diện của người bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Oanh |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Khắc Tứ và đồng phạm phạm tội "Trộm cắp tài sản" và "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"
