|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/HS-ST.
Ngày: 17 – 3 - 2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lý Thanh Phong.
Ông Nguyễn Văn Châu.
Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Tôn – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn S; sinh ngày 01/01/1990; nơi sinh: Tại huyện L, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K, sinh năm 1958 (chết) và bà Đặng Thị L, sinh năm 1955 (sống); tiền án: Có 05 tiền án gồm: Ngày 12/5/2011, bị TAND huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/02/2013, chưa chấp hành án phí, chưa xóa án tích); Ngày 26/3/2014, bị TAND huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/11/2015 và án phí, chưa xóa án tích); Ngày 15/11/2016, bị TAND huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/10/2018 và án phí, chưa xóa án tích); Ngày 14/8/2019, bị TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/11/2022, chưa chấp hành án phí, chưa xóa án tích); Ngày 22/02/2023, bị TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/5/2024 và án phí, chưa xóa án tích); tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 09/12/2024 đến ngày 12/12/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay (Có mặt).
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh ngày 01/01/1958; nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn L1, sinh ngày 01/01/1965; nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Bùi Văn B (5 Buôl), sinh năm 1963; nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/12/2024, sau khi uống rượu tại nhà của ông Nguyễn Văn L1, bị cáo nhìn thấy nhà của bà Nguyễn Thị Đ (đối diện với nhà của ông L1) có một người phụ nữ điều khiển xe chở 03 đứa trẻ chạy ra khỏi nhà nhưng không khóa cổng rào nên nảy sinh ý định vào nhà của bà Đ để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, bị cáo đi bộ từ nhà của ông L1 vào cổng rào nhà của bà Đ, rồi mở cửa trước và đi thẳng vào phòng ngủ của bà Đ, lúc này bị cáo nhìn thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A06, màu đen của bà Đ đang sạc pin để trên bàn, còn bà Đ thì đang ngủ say nên bị cáo đã lén lút rút cục sạc ra khỏi ổ cắm, rồi lấy chiếc điện thoại cùng với cục sạc quay ngược trở lại nhà của ông L1. Khi về đến nhà của ông L1, bị cáo vứt cục sạc điện thoại xuống sông và đem chiếc điện thoại vừa lấy trộm được cất giấu trong nhà sau của ông L1, rồi đi ngủ. Đến khoảng 04 giờ 00 phút ngày 09/12/2024, bà Đ giật mình thức dậy phát hiện chiếc điện thoại đã bị mất trộm nên đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐGTS ngày 11/12/2024 và Công văn số 48/HĐĐGTS ngày 31/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thuộc UBND huyện M, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A06, số seri: R8YX808TOLV, số IMEL: 356026211491035; Mua vào tháng 11 năm 2024 với số tiền 3.200.000 đồng; Giá khảo sát: 3.013.000 đồng; Giá trị còn lại: 80%; Thành tiền: 2.410.400 đồng. Tổng giá trị tài sản được định giá là: 2.410.400 đồng (đã bao gồm cục sạc pin).
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSMT ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Lê Văn S về Tội trộm cắp tài sản quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo theo điều luật như trên và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm Tội trộm cắp tài sản và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã thu giữ: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, màu đen, nhãn hiệu S1 A06, số IMEL: 356026211491035, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, sau khi làm rõ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị Đ nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, thống nhất với kết luận định giá. Tại lời nói sau cùng bị cáo không có ý kiến gì.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị hại yêu cầu về trách nhiệm hình sự yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật; Về trách nhiệm dân sự không yêu cầu. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện M, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa vắng mặt bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vì có đơn xin giải quyết vắng mặt và xét thấy sự vắng mặt của những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát; bị cáo có mặt tại phiên tòa không yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất Cáo trạng truy tố, bị cáo đã khai rõ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan Điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Hiện trường vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, bản kết luận số 41/KL-H ĐĐGTS ngày 11/12/2024 và Công văn số 48/HĐĐGTS ngày 31/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thuộc UBND huyện M, vật chứng của vụ án và phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định như sau: Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A06, màu đen, số seri: R8YX808TOLV, số IMEL: 356026211491035 (bao gồm cục sạc pin) của bị hại Nguyễn Thị Đắc . Tổng giá trị tài sản bị cáo đã lấy trộm qua định giá là 2.410.400 đồng (hai triệu bốn trăm mười ngàn bốn trăm đồng). Do đó, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị là 2.410.400 đồng (hai triệu bốn trăm mười ngàn bốn trăm đồng) mà bị cáo đã thực hiện phạm vào Tội trộm cắp tài sản. Mặt khác, bị cáo đã có 05 tiền án về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, chưa được xóa án tích (trong đó có 02 tiền án bị xử phạt với tình tiết định khung tăng nặng là “Tái phạm nguy hiểm” nên bị cáo phạm Tội trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Do đó, cáo trạng số 10/CT-VKSMT ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Cho nên, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc để bị cáo có thời gian tâm đắc sửa chữa lỗi lầm, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, góp phần phòng chống tội phạm chung.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; tài sản bị cáo lấy trộm được thu giữ kịp thời và giao trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại về tài sản không lớn. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã thu giữ: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, màu đen, nhãn hiệu S1 A06, số IMEL: 356026211491035, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, sau khi làm rõ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị Đ nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, về hình phạt, việc áp dụng pháp luật, xử lý vật chứng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Đối với ông Nguyễn Văn L1, quá trình điều tra đã xác định ông L1 không biết việc bị cáo đem chiếc điện thoại đã lấy trộm của bà Đ cất giấu trong nhà của mình nên không đặt ra xem xét xử lý là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn S phạm Tội trộm cắp tài sản.
1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Văn S 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/12/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Văn S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ vào Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Thanh Hoa |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự (tội trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
