Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH BẢO

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST

Ngày 14-3-2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
    • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền.
    • Các Hội thẩm nhân dân:
      • Ông Nguyễn Văn Quyết
      • Ông Nguyễn Đình Nha
    • - Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
    • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 115/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Lê Thị L; đăng ký thường trú: 8/97, L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số F, Lô B, đường L, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T; nơi cư trú: Thôn G, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Lê Thị L trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T chung sống vợ chồng từ năm 2019, đến ngày ngày 18-02-2020 anh chị đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống anh chị hòa thuận được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn do anh T có lối sống gia trưởng, không tin tưởng chị về tình cảm và kinh tế, nhiều lần anh đánh đập và đuổi chị ra khỏi nhà. Từ tháng 8/2024 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau, đối xử với nhau lạnh nhạt. Nay nhận thấy tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung là Nguyễn Phương T1, sinh ngày 07-8-2020. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng và yêu cầu anh T phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và trong quá trình xét xử, anh Nguyễn Văn T xác nhận về điều kiện hoàn cảnh kết hôn như chị Lê Thị L trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc thời gian đầu và có một con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2024 do chị L chơi chứng khoán làm thất thoát kinh tế gia đình, mặt khác chị L có quan hệ bất chính không quan tâm đến chồng con nên vợ chồng đã xảy ra bất hòa. Chị L đã bỏ nhà đi để con lại cho anh chăm sóc, khi chị L về đón con vợ chồng xảy ra xô sát, chính quyền địa phương phải can thiệp, hòa giải. Từ tháng 8/2024 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau, đối xử với nhau lạnh nhạt. Nay chị L xin ly hôn anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị Lê Thị L có 01 con chung là Nguyễn Phương T1, sinh ngày 07-8-2020. Khi ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con anh xin tự giải quyết với chị L, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đồng thời phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Phương T1, sinh ngày 07-8-2020 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh Nguyễn Văn T tự giải quyết với chị Lê Thị L nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Anh Nguyễn Văn T đăng ký thường trú tại thôn G, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn giữa chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Về nội dung vụ án:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng vào ngày 18-02-2020, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị hoà thuận thời gian đầu và có 01 con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp nên đã xảy ra bất hòa. Nay chị Lê Thị L xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh Nguyễn Văn T đồng ý ly hôn với chị L. Qua xác minh thì thấy, vợ chồng chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T có mâu thuẫn, từ tháng 8/2024 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Yêu cầu thuận tình ly hôn của chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T phù hợp với Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình được chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung Nguyễn Phương T1, sinh ngày 07-8-2020. Khi ly hôn, chị L và anh T cùng đề nghị Tòa án giao con chung cho anh chị trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L nuôi con yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), anh T nuôi con không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu đề nghị nuôi con chung của anh chị, Hội đồng xét xử nhận định: Anh T và chị L đều có thu nhập, tuy nhiên anh T có nơi ở ổn định, cháu Nguyễn Phương T1 thời gian ở với anh T được anh trực tiếp chăm sóc, được đi học đầy đủ. Thời gian cháu T1 ở với chị L, chị đưa con về ở tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương nhờ bố mẹ chị nuôi dưỡng chăm sóc cháu T1. Xét về điều kiện nuôi con chung thì anh T có điều kiện tốt hơn chị L về nơi ở, kinh tế, mặt khác anh T có thời gian và là người trực tiếp chăm sóc con chung. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của anh T, giao con chung Nguyễn Phương T1, sinh ngày 07-8-2020 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con anh T xin tự giải quyết với chị L, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T cùng chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 146, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T.
  2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Phương T1, sinh ngày 07-8-2020 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh Nguyễn Văn T tự giải quyết với chị Lê Thị L, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  4. Về tài sản chung: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí:

    Chị Lê Thị L phải chịu 75.000 đồng (Bẩy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Lê Thị L đã nộp tạm ứng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009419 ngày 07 tháng 10 năm 2024. Hoàn trả lại chị L 225.000 đồng (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

    Anh Nguyễn Văn T phải chịu 75.000 đồng (Bẩy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo lên toà án cấp trên để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Vĩnh Bảo;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng
  • - TAND Thành phố Hải Phòng;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo;
  • - Ủy ban nhân dân xã Giang Biên, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương Huyền

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger