TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13/3/2025 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Khắc Hiếu và ông Lương Công Hạnh
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Trong ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 12/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 về việc tranh chấp “Ly hôn”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1984; Trú tại: thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Chị Nguyễn Tú V, sinh năm 1988; Trú tại: G P, phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Nguyễn Văn H trình bày tại bản tự khai, đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 07/02/2025 được chứng thực của công chứng viên Mai Thị T thuộc Văn phòng C:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi với chị V tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 06/12/2012. Vì mâu thuẫn quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể cứu vãn nên vào tháng 4/2023 tôi có gửi đơn đến Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa để yêu cầu giải quyết ly hôn với chị V. Tuy nhiên, vào ngày 12/6/2023, Tòa án thành phố T đã mở phiên tòa xét xử vụ án ly hôn và không chấp nhận yêu cầu ly hôn của tôi. Từ đó cho đến nay, mối quan hệ vợ chồng vẫn không hàn gắn, khoảng cách ngày càng xa càng lạnh nhạt. Hiện tại, tôi vẫn đang sinh sống, lao động và trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Minh Đ ở tỉnh Thanh Hóa còn chị V vẫn đang sinh sống và trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Sỹ T1 ở thành phố T, tỉnh Phú Yên. Do đó tôi yêu cầu Tòa án cho tôi được ly hôn với chị V
Về con chung: Vợ chồng chúng tôi có 02 con chung: cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 01/8/2012 và cháu Nguyễn Sỹ T1, sinh ngày 19/01/2015. Sau khi ly hôn, tôi sẽ trực tiếp nuôi cháu Đ và chị V sẽ trực tiếp nuôi cháu T1; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Nợ chung và tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Tú V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi thống nhất với lời trình bày của anh H về kết hôn, về tình trạng hôn nhân của vợ chồng. Tuy nhiên tôi không đồng ý ly hôn vì anh H cắt đứt mọi liên lạc, chia cắt tình cảm các con, chia cắt tình cảm mẹ con, không cho tôi được gặp con. Trường hợp anh H vào thành phố T, gặp trực tiếp tôi và cam đoan ký nhận không chia cắt mẹ con, anh em thì tôi sẽ suy nghĩ lại việc ly hôn của anh H.
Về con chung: Vợ chồng chúng tôi có 02 con chung: cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 01/8/2012 và cháu Nguyễn Sỹ T1, sinh ngày 19/01/2015. Trong trường hợp phải ly hôn, tôi sẽ trực tiếp nuôi cháu T1 và anh H sẽ trực tiếp nuôi cháu D; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Nợ chung và tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã tiến hành hòa giải nhưng không được.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn anh H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn chị V đồng ý ly hôn với anh H; chị V sẽ trực tiếp nuôi cháu T1 và anh H trực tiếp nuôi cháu Đ; về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào ý kiến của đương tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn anh H vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặ nguyên đơn.
[2] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn anh H:
Xét, các tài liệu chứng cứ do đương sự giao nộp:
- Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 46/2023/HNGĐ-ST ngày 12/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa. Tại phần Quyết định, Hội đồng xét xử đã tuyên xử: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn H về việc yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Tú V;
- Đơn trình bày ý kiến của cháu Nguyễn Minh Đ ngày 07/02/2025 có nội dung: Trường hợp Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa cho cha mẹ cháu ly hôn thì cháu xin được ở với cha, để cha cháu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu;
- Đơn ghi nguyện vọng cháu Nguyễn Sỹ T1 có nội dung: Từ khi sinh ra con, con đã ở với mẹ V, do mẹ trực tiếp chăm sóc và yêu thương. Nay con tha thiết có nguyện vọng được ở với mẹ;
- Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 06/12/2012;
- Giấy khai sinh cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 01/8/2012 có cha tên Nguyễn Văn H mẹ tên Nguyễn Tú V;
- Giấy khai sinh cháu Nguyễn Sỹ T1, sinh ngày 19/01/2015 có cha tên Nguyễn Văn H mẹ tên Nguyễn Tú V.
Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Vợ chồng anh H chị V kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 06/12/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng hạnh phúc cho đến khi vợ chồng về huyện H, tỉnh Thanh Hóa sinh sống cùng gia đình chồng. Tại đây, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung nên vào năm 2016 chị V ẵm cháu Nguyễn Sỹ T1 về thành phố T sinh sống từ đó cho đến nay còn anh H cùng cháu Nguyễn Minh Đ ở lại huyện H, tỉnh Thanh Hóa từ đó cho đến nay. Do vợ chồng không còn tình cảm, tháng 4/2023, anh H gửi đơn đến Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa anh với chị V. Tuy nhiên, tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 46/2023/HNGĐ-ST ngày 12/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh H.
Xét yêu cầu ly hôn của anh H, Hội đồng xét xử thấy: Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau trừ trường hợp do yêu cầu của nghề nghiệp, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác. Vợ chồng anh H chị V sống ly thân từ năm 2016 đến nay, bỏ mặc nhau; không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Do đó có căn cứ tình trạng hôn nhân của anh H chị V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được được quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình. Đối chiếu tình trạng hôn nhân của anh H chị V với quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh H.
Tại phiên tòa, chị V đồng ý ly hôn với anh H. Do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa nguyên đơn anh H với bị đơn chị V.
[3] Về con chung: Xét, hiện nay cháu Đ đang ở với anh H, do anh H trực tiếp chăm sóc; cháu T1 đang ở với chị V, do chị V trực tiếp chăm sóc. Các cháu đã ổn định việc học tập, nơi sinh sống, văn hóa vùng miền và có nguyện vọng tha thiết được sống cùng mẹ, cùng cha. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình và sự tự nguyện của chị V tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh H, giao cháu Đ cho anh H và giao cháu T1 cho chị V trực tiếp nuôi là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các cháu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung: Các bên không yêu cầu nên Hội đồng không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nguyên đơn anh H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đã nộp đủ nên không phải nộp thêm.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn H.
- Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa nguyên đơn anh Nguyễn Văn H với bị đơn chị Nguyễn Tú V.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 01/8/2012 cho nguyên đơn anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi; giao cháu Nguyễn Sỹ T1, sinh ngày 19/01/2015 cho bị đơn chị Nguyễn Tú V trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đã nộp đủ tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005769 ngày 15/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa nên không phải nộp thêm.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tâm |
Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về ly hôn (hôn nhân gia đình sơ thẩm)
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân gia đình sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn ly hôn nguyên đơn
