Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ Q

TỈNH QUẢNG NGÃI

Bản án số: 16/2025/HS-ST

Ngày: 12-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Minh Tân.
  2. Ông Nguyễn Mạnh Hùng.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Lĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 227/2024/TLST-HS ngày 20/12/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HS ngày 17/01/2025 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 30/TB-TA ngày 10/02/2025 đối với:

Bị cáo Ưng Quang T, sinh ngày: 21/7/1985 tại tỉnh Quảng Ngãi; cư trú tại: Tổ A, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ưng Văn T1 và bà Nguyễn Thị Bích N; vợ, con chưa có; Tiền sự: Không.

Tiền án: có 02, ngày 29/9/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Q xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và ngày 21/12/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Q xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Nhân thân:

Ngày 20/8/2021, bị Công an xã N, huyện T xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức “Phạt tiền”, đã nộp phạt ngày 26/8/2021.

Ngày 12/4/2024, bị Công an phường L xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Ngày 20/5/2024, bị Công an huyện N xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Ngày 23/8/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Ng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo đang thi hành án tại Trại giam B – Bộ C.

- Bị hại: Bà Trần Thị T2, sinh năm 1969.

Cư trú tại: Tổ dân phố L, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Đào Duy N1, sinh năm 1992; cư trú tại: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
  • + Bà Võ Thị S, sinh năm 1966; cư trú tại: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
  • + Ông Lê Văn T3, sinh năm 1978; cư trú tại: Tổ D, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 06/4/2024, Lê Văn T3 điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Future, màu xanh – bạc – đen, biển kiểm soát 76E1 – 101.64 chở Ưng Quang T đi dạo trên các tuyến đường tại thành phố Q. Đến khoảng 00 giờ 05 phút ngày 07/4/2024, T3 và T nhìn thấy 02 (hai) tấm cốp pha bằng kim loại trước tiệm mua bán phế liệu không có tên trên đường H, thuộc tổ dân phố L, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi do bà Trần Thị T2 làm chủ. T3 và T nảy sinh ý định lấy trộm 02 (hai) tấm cốp pha trên bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. T3 dừng xe gần tiệm phế liệu, T3 và T đến khiêng 02 (hai) tấm cốp pha để lên xe. T ngồi sau giữ 02 (hai) tấm cốp pha, T3 điều khiển xe môtô 76E1 – 101.64 chở T mang 02 (hai) tấm cốp pha đi tìm địa điểm cất giấu, đợi đến gần sáng thì mang đi tiêu thụ. Khi đang đi trên cầu T thuộc phường T, TP Q, T3 và T bị tổ tuần tra Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Q dừng xe kiểm tra, đưa T3 và T về Công an phường Lê Hồng P làm việc và chuyển hồ sơ cho Công an phường L.

Sau khi xác định vụ việc trên xảy ra tại phường T, ngày 16/4/2024, Công an phường L chuyển hồ sơ cho Công an phường T giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 04/7/2024, Công an phường T chuyển hồ sơ cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q thụ lý giải quyết.

Sau khi thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” vào ngày 07/4/2024 tại phường T, thành phố Q. Ngày 13/5/2024, Ưng Quang T tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Khu dân cư Đ, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N khởi tố vụ án hình sự và ra Lệnh tạm giam đối với Ưng Quang T về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1, Điều 173 – Bộ luật hình sự. Ngày 23/8/2024, T bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 68/KL-HĐĐGTS ngày 15/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Q, kết luận: 02 (hai) tấm cốp pha bằng kim loại, kích thước (240x40)cm (tài sản đã qua sử dụng) tại thời điểm ngày 07/4/2024 có trị giá là 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng).

Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 14/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Ưng Quang T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ưng Quang T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Áp dụng Điều 56 tổng hợp hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù của bản án số 29/2024/HSST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 02 (hai) tấm cốp pha bằng kim loại, kích thước (240x40)cm, đã qua sử dụng. Đây là tài sản Ưng Quang T và đối tượng Lê Văn T3 trộm cắp của bà Trần Thị T2 vào ngày 07/4/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q trả lại cho bà Trần Thị T2 là chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda Future, màu xanh – bạc – đen, biển kiểm soát 76E1 – 101.64, đây là phương tiện Lê Văn T3 sử dụng để chở Ung Quang T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Xe môtô trên do T3 mượn của anh Đào Duy N1 (SN: 1992; nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi) đi thắp nhang cho cha mẹ, anh N1 không biết T3 sử dụng xe môtô trên để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra xác định xe môtô nêu trên do bà Võ Thị S (SN: 1966; nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi), là mẹ ruột của anh Đào Duy N1 đứng tên chủ sở hữu, bà S đã tặng xe môtô trên cho anh N1 để sử dụng làm phương tiện đi làm nhưng chưa sang tên cho anh N1. Công an phường T đã trả xe cho anh Đào Duy N1.

Đối với 02 (hai) ống kim tiêm, đã qua sử dụng, thu giữ từ Lê Văn T3. Đây là công cụ T3 dùng để sử dụng ma túy. Sau khi dùng xong, T3 không vứt đi mà giữ lại trong người để sử dụng ma túy, khi lực lượng Cảnh sát Cơ động mời làm việc, tạm giữ và giao cho Công an phường Lê Hồng P. Công an phường L đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn T3 và Ưng Quang T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, Công an phường L đã tiêu hủy hai ống kim tiêm trên.

- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không đề cập.

Ý kiến tranh luận của bị cáo: Bị cáo thống nhất, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn, hối hận đối với hành vi do mình gây ra, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bị cáo và Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đều đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử, không đề nghị hoãn phiên tòa. Xét bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra đã có lời khai, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiếp tục xét xử.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Ưng Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, nên có cơ sở xác định:

Để có tiền mua ma túy sử dụng, ngày 07/4/2024, Ưng Quang T và Lê Văn T3 trộm cắp 02 (hai) tấm cốp pha bằng kim loại tại tiệm mua bán phế liệu không có tên trên đường H, thuộc phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi do bà Trần Thị T2 làm chủ. Trên đường tẩu thoát thì bị lực lượng Cảnh sát cơ động phát hiện. 02 (hai) tấm cốp pha bằng kim loại tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng).

Bị cáo Ưng Quang T có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” vào ngày 21/12/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Q xét xử tại Bản án số 111/2021/HS-ST xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 20/02/2023, chưa được xóa án tích, nên hành vi của bị cáo Ưng Quang T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q truy tố bị cáo Ưng Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Bị cáo Ưng Quang T là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần phải đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tiền án, tiền sự, nhân thân của bị cáo.

[5.1] Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

[5.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 29/9/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Q xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 20/01/2020; tuy nhiên, đến ngày 21/12/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Q xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, theo khoản 2 Điều 73 Bộ luật Hình sự thì thời hạn để xóa án tích tại Bản án số 94/2015/HSST ngày 29/9/2015 được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính tại Bản án số 111/2021/HSST ngày 21/12/2021, vì vậy bị cáo chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5.3] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù một thời gian mới đủ tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị hại là bà Đinh Thị T4 đã nhận lại tài sản là 02 (hai) tấm cốp pha bằng kim loại, kích thước (240x40)cm và bà T4 không yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự, nên không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 02 (hai) tấm cốp pha bằng kim loại, kích thước (240x40)cm, đã qua sử dụng. Đây là tài sản Ưng Quang T và đối tượng Lê Văn T3 trộm cắp của bà Trần Thị T2 vào ngày 07/4/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q trả lại cho bà Trần Thị T2 là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

- Đối với 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda Future, màu xanh – bạc – đen, biển kiểm soát 76E1 – 101.64, đây là phương tiện Lê Văn T3 sử dụng để chở Ưng Quang T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Xe môtô trên do T3 mượn của anh Đào Duy N1 (SN: 1992; nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi) đi thắp nhang cho cha mẹ, anh N1 không biết T3 sử dụng xe môtô trên để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra xác định xe môtô nêu trên do bà Võ Thị S (SN: 1966; nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi), là mẹ ruột của anh Đào Duy N1 đứng tên chủ sở hữu, bà S đã tặng xe môtô trên cho anh N1 để sử dụng làm phương tiện đi làm nhưng chưa sang tên cho anh N1. Công an phường T đã trả xe cho anh Đào Duy N1 là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

- Đối với 02 (hai) ống kim tiêm, đã qua sử dụng, thu giữ từ Lê Văn T3. Đây là công cụ T3 dùng để sử dụng ma túy. Sau khi dùng xong, T3 không vứt đi mà giữ lại trong người để sử dụng ma túy, khi lực lượng Cảnh sát Cơ động mời làm việc, tạm giữ và giao cho Công an phường Lê Hồng P. Công an phường L đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn T3 và Ưng Quang T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, Công an phường L đã tiêu hủy hai ống kim tiêm trên là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

[8] Về vấn đề khác: Ngày 04/3/2021, Lê Văn T3 bị Công an huyện S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 40/QĐ-XPHC, đã nộp phạt ngày 26/5/2021. Tại thời điểm thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” vào ngày 07/4/2024, đối tượng T3 được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, hành vi của đối tượng Lê Văn T3 không đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngày 29/10/2024, Công an thành phố Q ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 3901/QĐ-XPHC đối với đối tượng Lê Văn T3 về hành vi “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 15 – Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

[9] Đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Riêng tình tiết tăng nặng tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự Viên kiểm sát nhân dân thành phố Q không đề nghị áp dụng là chưa phù hợp.

[10] Bị cáo Ưng Quang T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Ưng Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Ưng Quang T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 15 (mười lăm) tháng năm tù tại Bản án số 29/2024/HSST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc bị cáo Ưng Quang T phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/5/2024.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ưng Quang T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND TP. Q;
  • - Phân trại tạm giam khu vực TP. Q;
  • - Cơ quan THAHS Công an T. Quảng Ngãi;
  • - Cơ quan CSĐT Công an T. Quảng Ngãi;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Mến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Để có tiền mua ma túy sử dụng, ngày 07/4/2024, Ưng Quang T và Lê Văn Th trộm cắp 02 (hai) tấm cốp pha bằng kim loại tại tiệm mua bán phế liệu không có tên trên đường Hoàng Sa, thuộc phường Tr, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi do bà Trần Thị T làm chủ. Trên đường tẩu thoát thì bị lực lượng Cảnh sát cơ động phát hiện. 02 (hai) tấm cốp pha bằng kim loại tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Bị cáo Ưng Quang T có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” vào ngày 21/12/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Q xét xử tại Bản án số 111/2021/HS-ST xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 20/02/2023, chưa được xóa án tích, nên hành vi của bị cáo Ưng Quang T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger