TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST
Ngày 11 tháng 3 năm 2025
“V/v tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tiến Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Văn Sâm.
- Ông Đặng Ngọc Tân.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Công Huân - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025; về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXX-ST ngày 24 tháng 02 năm 2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1998.
Đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
Chỗ ở hiện nay: thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1994.
Đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Hiện đang chấp hành án tại: Đ, phân trại 2, trại giam H; địa chỉ: xã H, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
(Chị L, anh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L có yêu cầu khởi kiện theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình và trình bày tại đơn xin xét xử vắng mặt như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Quốc T tìm hiểu tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 28/9/2017. Sau khi kết hôn chị L và anh T chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn do anh Trịnh V vào tệ nạn xã hội, chị L và gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh T không thay đổi, vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật. Hiện anh T đang chấp hành án tại phân trại 2, trại giạm Hoàng T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quốc Trịnh .
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Quốc T có 01 con chung là Nguyễn Hà V1, sinh ngày 24/3/2018. Hiện con V1 đang ở cùng với chị L. Ly hôn, chị L đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L và anh T không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị L đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải cho chị và anh T, đồng thời chị xin được vắng mặt tại phiên tòa.
- Tại biên bản lấy lời khai, đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Quốc T trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Thời gian và điều kiện kết hôn, thời gian mâu thuẫn như chị L trình bày là đúng. Quá trình vợ chồng chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh và chị L thường xẩy ra mâu thuẫn và bất đồng về quan điểm sống nên thường xuyên xẩy ra xô xát cãi vã lẫn nhau. Mặc dù mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay chị L có đơn khởi kiện đề nghị Tòa giải quyết cho chị L ly hôn với anh T thì anh cũng đồng ý ly hôn với chị L.
Về quan hệ con chung: Anh và chị L có 01 con chung là Nguyễn Hà V1, sinh ngày 24/3/2018. Hiện con V1 đang ở cùng với chị L. Ly hôn, anh đề nghị giao con chung cho chị L nuôi dưỡng, anh đồng ý với nguyện vọng của chị L là không yêu cầu anh phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị L không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản. Hiện nay, anh Nguyễn Quốc T đang chấp hành án tại Đội 45, phân trại số 02, trại giam H. Anh đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải cho anh và chị L, đồng thời anh có đơn xin được xét xử vắng mặt tại phiên tòa.
- Tại biên bản xác minh với Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện:
Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Quốc T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 28/9/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại gia đình anh T. Quá trình chung sống vợ chồng chị L, anh T có mâu thuẫn như thế nào thì cơ sở không rõ, anh T bị xử phạt tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Hiện nay chị L và anh T đã sống ly thân mỗi người một nơi. Nay chị L có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng các bên. Chị L, anh T có 01 con chung là Nguyễn Hà V1, sinh ngày 24/3/2018, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Cơ sở thôn không nắm rõ.
- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình có quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Quốc T là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã A, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, cho bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn đều đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải cho chị L, anh T được và đưa vụ án ra xét xử, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh T.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị L, anh T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 28/9/2017 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn chị L và anh T chung sống hòa thuận đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn do anh Trịnh V vào tệ nạn xã hội khiến cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Hiện anh T đang chấp hành án tại phân trại 2, trại giạm Hoàng T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hội đồng xét xử thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, xử cho chị được ly hôn anh T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Quốc T có 01 con chung là Nguyễn Hà V1, sinh ngày 24/3/2018. Hiện con V1 đang ở cùng với chị L. Ly hôn anh, chị thống nhất giao con chung cho chị L nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét nguyện vọng nuôi con chung của chị L là chính đáng, kể từ khi anh T đi chấp hành án, một mình chị L nuôi dưỡng, chăm sóc con chung phát triển bình thường. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Quốc T không yêu cầu vì vậy Hội đồng không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Quốc Trịnh .
- Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hà V1, sinh ngày 24/3/2018. Anh Nguyễn Quốc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.
Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị L đã nộp theo Biên lai thu số 0004999 ngày 07/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Quốc T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Tiến Thành |
Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 11/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn (hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Liễu xin ly hôn anh Nguyễn Quốc Trịnh
