Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10/3/2025

V/v: Tranh chấp về HNGĐ giữa Chị T và anh D.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Ngọc Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quế, ông Lê Bá Thành.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Hương, Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành: Bà Nguyễn Thị Lâm, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2024/TLST-HNGĐ, ngày 02/12/2024 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 17/01/2025; quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2025/QÐST-HNGĐ, ngày 14/02/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1983 (xin vắng mặt).

Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, thị xã T, Bắc Ninh.

Bị đơn: Anh Nguyễn Nhân D, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Trú tại: Thôn T, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn là chị Phạm Thị T trình bày: Chị kết hôn với anh D ngày 08/10/2011, có được tìm hiểu và tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ. Cưới xong chị về nhà anh D sinh sống và làm ăn ngay, vợ chồng ở riêng.

Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận đến tháng 02/2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng sống chung đất với gia đình chồng, nhưng khác nhà nên mẹ chồng thường xuyên soi mói, gây áp lực cho chị. Mỗi lần anh em anh D xích mích với nhau thì mẹ chồng và các chị chồng nói là do chị xui anh D nên đã trách móc, xỉa xói nói xấu chị. Mẹ chồng đưa cho chị một quyển sổ công nợ của gia đình chồng và bắt chị trả nợ cho gia đình chồng. Chị nói: "Khi nào con có thì con trả", mẹ chồng nói: "Có bao nhiêu thì trả bấy nhiêu" khiến chị rất áp lực. Anh D không đứng ra bênh vực chị. Ngoài ra anh D thường xuyên tụ tập, đàn đúm rượu chè, cờ bạc với các bạn ngoài xã hội, không tu chí làm ăn để lo cho gia đình. Vì không chịu được nên tháng 8/2012 chị bỏ về nhà đẻ sinh sống. Anh D có đến gọi chị gọi chị về 1, 2 lần nhưng chị không về, sau đó anh D không gọi chị về nữa. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2012 đến nay. Năm 2017, chị có nghe nói là anh D đã chung sống với người phụ nữ khác và có một con gái, sinh năm 2018, chị không biêt tên tuổi của người phụ nữ đó, chỉ biết là người quê T, T, Bắc Ninh. Chị xác định không thể tiếp tục chung sống với anh D được vì vợ chồng không còn tình cảm, chị đề nghị được ly hôn anh D.

  • - Về con chung: Không có.
  • - Về tài sản chung, công nợ: Chị trình bày không có.

Phía bị đơn là anh Nguyễn Nhân D đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã kết hợp cùng chính quyền địa phương đến nhà anh D để lấy lời khai, nhưng anh D đi làm công ty không có nhà, do vậy Tòa án không lấy lời khai của anh D được.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật; bị đơn không chấp hành đúng pháp luật, không đến Toà án làm việc, không có mặt theo giấy triệu tập, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Áp dụng điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân gia đình.
  • Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:
    • - Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh D đã trầm trọng, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị T được ly hôn anh D.
    • - Về con chung: Không có.
    • - Về tài sản chung, công nợ: Không có nên không xem xét.
    • - Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị T xin ly hôn anh Nguyễn Nhân D, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình và Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1, điều 28; điều 35; điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Chị Phạm Thị T kết hôn anh Nguyễn Nhân D ngày 08/10/2011, đã tuân đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận đến tháng 02/2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do mẹ chồng con dâu không hợp nhau nên mẹ chồng thường xuyên soi mói, nói xấu chị và bắt chị phải trả nợ cho gia đình nhà chồng để gây áp lực cho chị. Phía anh D thì mặc kệ không đứng ra bênh vực bảo vệ chị. Ngoài ra anh D còn thường xuyên tụ tập, đàn đúm rượu chè, cờ bạc với các bạn ngoài xã hội, không tu chí làm ăn để lo cho gia đình. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2012 đến nay, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh D.

Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh D, nhưng anh D vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Việc anh D vắng mặt được coi là trường hợp cố tình trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện. Phía gia đình chị T trình bày vợ chồng mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống.

Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T, anh D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng sống ly thân từ năm 2012 đến nay mà không có biện pháp hàn gắn, do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn với anh D.

Về con chung, tài sản chung, công nợ: Không có nên không xem xét.

Tại phiên tòa chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xét yêu cầu của chị là phù hợp pháp luật, cần chấp nhận. Anh D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không có lý do, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

[3] Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình.

Căn cứ điều 235, 264, 266, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T được ly hôn anh Nguyễn Nhân D.
  2. Về con chung: Không có.
  3. Về tài sản chung, công nợ: Không có.
  4. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm (được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001547, ngày 28/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành). Chị T đã nộp đủ tiền án phí.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh.
  • - VKSND tx. Thuận Thành.
  • - THADS tx. Thuận Thành.
  • - Người tham gia tố tụng.
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Trần Ngọc Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH về tranh chấp về hngđ

  • Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về HNGĐ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger