|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HNGĐ – ST Ngày: 07/3/2025 V/v “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Thành Vui
- Bà Trần Xuân Đạm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Mai Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 394/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2025/QĐHPT ngày 21/02/2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Điểu Thị Mỹ C, sinh năm 2001
Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước
* Bị đơn: Ông Điểu R, sinh năm 1997
Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Điểu Thị Mỹ C trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà C và ông Điểu R có tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2016. Đến năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
Trước khi sống chung bà C, ông R có tìm hiểu nhau trong thời gian 01 năm.
Sau khi sống chung vợ chồng bà C sống chung với gia đình bà C tại ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
Vợ chồng bà C sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống không hạnh phúc nên vợ chồng bà C sống ly thân từ tháng 7/2024 cho đến nay.
Nay nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà C làm đơn xin được ly hôn với ông Điểu R.
+ Về con chung: Bà C và ông Điểu R có 02 con chung tên là Điểu Minh D, sinh ngày 03/4/2016 và Điểu Khải D1, sinh ngày 26/01/2022.
Hiện nay các con đang sống cùng bà C tại ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
Khi ly hôn bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 02 con chung là Điểu Minh D, sinh ngày 03/4/2016 và Điểu Khải D1, sinh ngày 26/01/2022.
+ Về yêu cầu cấp dưỡng: Khi ly hôn bà C yêu cầu ông Điểu R phải cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng mỗi tháng 2.000.000đồng (mỗi con chung 1.000.000đồng) kể từ thời điểm có Quyết định/Bản án của Tòa án cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi.
Bà C và ông R không nhận ai làm con nuôi và hiện nay bà C không mang thai.
+ Về tài sản chung: Bà C và ông Điểu R tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ chung: Bà C và ông Điểu R không có nợ ai và không ai nợ vợ chồng bà C nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Điểu R trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà C. Tuy nhiên, bà C yêu cầu ly hôn thì ông R còn yêu thương vợ con nên không đồng ý ly hôn với bà Điểu Thị Mỹ C. Ông R mong muốn được hàn gắn tình cảm với bà C.
+ Về con chung: Ông R và bà C có 02 con chung: Điểu Minh D, sinh ngày 03/4/2016; Điểu Khải D1, sinh ngày 26/01/2022.
Hiện nay các con đang sống cùng ông R và bà C tại ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
Nếu phải ly hôn thì ông R yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 02 con chung là Điểu Minh D, sinh ngày 03/4/2016 và Điểu Khải D1, sinh ngày 26/01/2022.
+ Về yêu cầu cấp dưỡng: Khi ly hôn ông R không yêu cầu bà C phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà C và ông R không nhận ai làm con nuôi và hiện nay bà C không mang thai.
+ Về tài sản chung: Bà C và ông R tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ chung: Bà C và ông R không có nợ ai và không ai nợ lại bà C và ông R nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh phát biểu ý kiến:
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh không có kiến nghị gì về tố tụng.
- Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Điểu Thị Mỹ C.
+ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Điểu Thị Mỹ C được ly hôn với ông Điểu R.
+ Về con chung: Bà Điểu Thị Mỹ C được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung tên là Điểu Minh D, sinh ngày 03/4/2016 và Điểu Khải D1, sinh ngày 26/01/2022.
+ Về yêu cầu cấp dưỡng: Buộc ông Điểu R phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng mỗi tháng 2.000.000đồng (mỗi con chung 1.000.000đồng) kể từ thời điểm có Quyết định/Bản án của Tòa án cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi.
+ Về tài sản chung: Bà C và ông R khẳng định tự thỏa thuận về tài sản chung nên không xem xét.
+ Về nợ chung: Bà C và ông R khẳng định không có nợ chung nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Điểu Thị Mỹ C có đơn khởi kiện ly hôn với ông Đ Rích tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh để giải quyết theo thẩm quyền. Xét thấy ông Điểu R có nơi cư trú tại huyện L, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, biết được Tòa án đang thụ lý và giải quyết ly hôn theo đơn khởi kiện của bà Điểu Thị Mỹ C nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
Bà Điểu Thị Mỹ C và ông Điểu R tự nguyện sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Như vậy, hôn nhân giữa bà C và ông Điểu R là hợp pháp.
Theo đơn khởi kiện thì bà Điểu Thị Mỹ C cho rằng vợ chồng sống không hạnh phúc, phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm. Nay nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà C xin được ly hôn với ông L.
Trong quá trình giải quyết, ông Điểu R cũng thừa nhận giữa vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống không hạnh phúc nên vợ chồng ông R sống ly thân từ tháng 8/2024 cho đến nay.
Tại phiên tòa, ông R vắng mặt không có lý do mặc du đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà Điểu Thị Mỹ C và ông Điểu R đã trầm trọng, cuộc sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho bà Điểu Thị Mỹ C được ly hôn với ông Điểu R.
+ Về con chung: Bà C và ông Điểu R có 02 con chung tên là Điểu Minh D, sinh ngày 03/4/2016 và Điểu Khải D1, sinh ngày 26/01/2022. Hiện nay con chung đang sống với bà C. Bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung. Cháu Minh D có nguyện vọng được ở với mẹ, cháu Khải D1 tại thời điểm khởi kiện chưa đủ 36 tháng tuổi. Vì vậy, cần giao con chung cho bà Điểu Thị Mỹ C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp.
+ Về yêu cầu cấp dưỡng: Bà C yêu cầu ông Điểu R phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng mỗi tháng 2.000.000đồng (mỗi con chung 1.000.000đồng) kể từ thời điểm có Quyết định/Bản án của Tòa án cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi. Xét yêu cầu trên là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, nên cần chấp nhận yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con của bà C.
+ Về tài sản chung: Bà C và ông R khẳng định vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản chung và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
+ Về nợ chung: Bà C và ông R khẳng định không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bà C phải chịu số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện Lộc Ninh là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 39 Bộ luật dân sự;
- - Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, 84, 85, 86 và 87 Luật hôn nhân gia đình;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Điểu Thị Mỹ C.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Điểu Thị Mỹ C được ly hôn với ông Điểu R.
2/ Về con chung: Bà Điểu Thị Mỹ C được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung tên là Điểu Minh D, sinh ngày 03/4/2016 và Điểu Khải D1, sinh ngày 26/01/2022.
3/ Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Điểu R phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng, mỗi tháng cấp dưỡng 2.000.000đồng (mỗi con chung 1.000.000đồng/tháng) kể từ thời điểm có Quyết định/Bản án của Tòa án cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
4/ Về tài sản chung: Bà Điểu Thị Mỹ C và ông Điểu R khẳng định tự thỏa thuận về tài sản chung và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
5/ Về nợ chung: Bà Điểu Thị Mỹ C và ông Điểu R khẳng định không có nợ ai, không ai nợ lại vợ chồng và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
6/ Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà C phải chịu số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí bà C đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước theo biên lai thu tiền số: 0006645 ngày 14/10/2024.
7/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Quyết |
Bản án số 16/2025/HNGĐ – ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà C ly hôn với ông R
