|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày 06 tháng 3 năm 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Vi Thị Hương Giang.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thanh;
- Ông Đoàn Văn Cương.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Huấn– Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ Tại điểm cầu trực tuyến Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu trực tuyến Trại tạm giam công an tỉnh B xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2025/HSST ngày 19 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/HSST-QĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Vũ Văn Đ, sinh năm 1986; giới tính: nam, tên gọi khác: không. Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Vũ Văn P, sinh năm 1965 và con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1977 và có 03 con; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại Bản án số 02/2010/HSST ngày 15/01/2010 của Toà án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn xử phạt Vũ Văn Đ 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; nơi cư trú: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- - Anh Ngô Văn T1, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- - Anh Ngô Đức Q, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- - Anh Trần Văn N, sinh năm 1989; Nơi cư trú: TDP T, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Văn Đ, sinh năm 1986 trú tại thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang là đối tượng nghiện ma tuý. Đ khai, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 22 giờ ngày 16/9/2024, Đ liên hệ với Trần Văn N (khoảng 30 tuổi, ở gần sân bóng xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; thường gọi là “Nam Cầu”) qua mạng xã hội Z để hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy đá. N đồng ý và bảo sẽ có người liên lạc với Đ. Khoảng 15 phút sau, có 01 người thanh niên (Đông không rõ là ai) gọi điện qua M và nói với Đ ra khu vực gần gốc cây đổ ở đường trong khu đô thị R thuộc thị trấn V, huyện L để lấy ma túy được đựng trong 01 bao thuốc lá màu vàng. Đông một mình điều khiển xe mô tô ra điểm hẹn. Tại đây, Đ thấy 01 bao thuốc lá, bên trong có 01 túi nilon màu trắng đựng ma túy đá; Đ lấy túi nilon chứa ma túy đá đút vào túi quần rồi mang về nhà sử dụng hết một phần ma túy đá vừa mua. Số ma túy còn lại đựng trong trong túi nilon Đông cài vào bên trong vành chiếc mũ lưỡi trai và đội lên đầu. Khoảng 10 giờ ngày 17/9/2024, Ngô Văn T1 - sinh năm 1991, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang và Ngô Đức Q, sinh năm 1998, trú tại thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang liên hệ với Đ qua Facebook hẹn đến nhà Đ chơi. Đông về thì gặp T1 và Q ở cổng nhà. Đông mời Q và T1 vào nhà và ngồi tại chiếu trải trên nền nhà ngang rồi lấy số ma túy đá còn lại từ hôm trước và 01 chai thủy tinh có cắm cóng thủy tinh, ống hút nhựa trên nắp ra để cùng sử dụng. Đông cho ma túy đá vào cóng thủy tinh, dùng bật lửa hơ nóng cóng và sử dụng. Sau đó, Đ tiếp tục lấy bật lửa hơ nóng cóng cho T1 và Q sử dụng. Đông, T1 và Q sử dụng ma túy được 01 lượt thì Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an xã H bắt quả tang Đ về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Ngô Văn T1 và Ngô Đức Q.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu trên mặt chiếu trải trên nền nhà ngang của Đ 01 (một) vỏ túi nilon màu trắng, một đầu hở; 01 (một) chai thủy tinh có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp có 02 lỗ thủng, một lỗ cắm ống hút màu xanh, màu hồng; một lỗ cắm coóng thủy tinh, đáy chai có gắn đế nhựa hình tròn màu vàng (tất cả được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu “QT”) và 01 bật lửa.01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, máy cũ đã qua sử dụng, số IMEI1: 864738042400895 và IMEI2: 864738042400887, số điện thoại 0367.849.xxx và 0566452770 (được niêm phong trong phong bì kí hiệu “ĐT").
Tại Cơ quan điều tra Vũ Văn Đ, Ngô Văn T1 và Ngô Đức Q đều khai nhận Đ mời Q và T1 vào nhà để sử dụng ma túy đá, các vật chứng thu giữ nói trên đều là công cụ các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Đ, Q và T1, cả 03 đối tượng đều dương tính với Methamphetamine. Cùng ngày 17/9/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đ. Kết quả, thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda mang biển kiểm soát 98M1- 147.23.
Tại Kết luận giám định số: 2057/KL-KTHS ngày 25/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
“Trong 01 (một) hộp giấy ký hiệu "QT" được niêm phong, gửi giám định: Trong 01 (một) vỏ túi nilon màu trắng, một đầu hở có chất ma túy bám dính, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng mẫu.
Trong 01 (một) cóng thủy tinh nối với 01 (một) ống hút nhựa màu vàng và 01 (một) ống hút nhựa màu xanh nối với 01 (một) ống hút nhựa màu hồng được cắm trên nắp nhựa màu đỏ của 01 (một) chai thủy tinh màu trắng, phần đáy chai gắn 01 (một) đế nhựa màu vàng có chất ma túy bám dính, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng mẫu”.
Tại Kết luận giám định số 2213/KL-KTHS ngày 17/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Dãy số máy, dãy số khung trên xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Dream II, màu sơn nâu, biển kiểm soát 98M1-147.23 gửi giám định bị tẩy xoá, không xác định được số nguyên thuỷ”.
Ngày 17/9/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại của Vũ Văn Đ, kết quả: Lịch sử cuộc gọi có nhiều số điện thoại gọi đi và đến, trong đó có số 0394.035.228 lưu trong danh bạ là “T2 lát” và 0988.292.662 lưu trong danh bạ là “Trần Văn N”. Tin nhắn của người được lưu trong danh bạ là “T2 lát” rủ chơi ma tuý. Kiểm tra ứng dụng Zalo, số điện thoại đăng ký 0367.849.xxx của Đ phát hiện trò chuyện với tài khoản: “Trần Văn N” có liên quan đến vụ án.
Cùng ngày, tiến hành kiểm tra điện thoại của Ngô Văn T1, kết quả: Không phát hiện dữ liệu gì liên quan đến vụ án.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng truy tố.
Tại bản cáo trạng số: 25/CT-VKS ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Vũ Văn Đ về tội: “Tổ chức trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn Đ phạm tội “Tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Vũ Văn Đ từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/9/2024.
- - Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) vỏ túi nilon màu trắng, một đầu hở; 01 (một) chai thủy tinh có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp có 02 lỗ thủng, một lỗ cắm ống hút màu xanh, màu hồng; một lỗ cắm coóng thủy tinh, đáy chai có gắn đế nhựa hình tròn màu vàng (tất cả được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu “QT”), 01 bật lửa thu giữ tại nhà Đ.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, máy cũ đã qua sử dụng, số IMEI1: 864738042400895 và IMEI2: 864738042400887, số điện thoại 0367.849.xxx và 0566452770 và 01 xe mô tô Honda Dream, xe cũ đã qua sử dụng, không xác định được số khung, số máy.
- - Án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Đ phải chịu 200.000 đồng án phí HSST quy định của pháp luật.
Bị cáo Đ nói lời nói sau cùng: Bị cáo (Đông) biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải và mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
- Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người người chứng kiến đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tuy nhiên họ vắng mặt không có lý do, xét thấy quá trình giải quyết vụ án, có lời khai của họ đã có trong hồ sơ vụ án nên việc họ vắng mặt không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
- Về hành vi và tội danh của bị cáo: Khoảng 22 giờ ngày 16/9/2024, Vũ Văn Đ khai mua 200.000 đồng ma tuý của đối tượng Trần Văn N về để sử dụng. Khoảng 10 giờ00 phút, ngày 17/9/2024, Đ có hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện là chai thuỷ tinh có cắm cóng thuỷ tinh và ống hút nhựa trên nắp,bật lửa ga và cung cấp một phần ma tuý Methamphetamine đã mua trước đó cho bản thân dùng và mời Ngô Văn T1, Ngô Đức Q cùng nhau sử dụng tại nhà ngang của mình. Hồi 11 giờ 10 phút cùng ngày, khi các đối tượng trên đang sử dụng ma tuý thì bị Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an xã H, huyện L bắt quả tang. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như vật chứng đã thu hồi, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với không gian, thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội.
Từ những phân tích nêu trên khẳng định hành vi của bị cáo Vũ Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Xét thấy Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo Đ theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo Vũ Văn Đ.
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội, hành vi đó là rất nguy hiểm cho xã hội, ma túy là hiểm họa, là điều kiện gây ra sự suy thoái về đạo đức cũng là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Do đó, phải xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo đã thực hiện. Xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung tội phạm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
- HĐXX xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày là phù hợp với Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về các vấn đề khác:
HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã bị Tòa án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn xét xử Vũ Văn Đ 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình Điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo có ông là Liệt sỹ nên được áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- - Đối với 01 biển kiểm soát 98M1-147.23, quá trình điều tra xác định biển kiểm soát trên không phải của xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream nên ngày 13/01/2025, cơ quan điều tra đã chuyển Biển kiểm soát trên đến Công an huyện để xử lý theo quy định.
- - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Vũ Văn Đ, Ngô Văn T1 và Ngô Đức Q: Ngày 26/11/2024, Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên về hành vi này.
- - Đối với người nam giới gọi điện qua M cho Đ ra lấy ma tuý, Đ khai chưa từng gặp người này, sau khi gọi điện xong Đ đã xoá lịch sử cuộc gọi nên không có căn cứ để truy tìm.
- - Đối với Trần Văn N theo Đ khai là người bán ma tuý cho Đ,Cơ quan điều tra đã tiến hành đấu tranh, làm việc nhưng N không thừa nhận việc bán ma tuý cho Đ. Ngày 30/12/2024, Cơ quan điều tra đã cho Vũ Văn Đ và Trần Văn N đối chất, tuy nhiên N vẫn không thừa nhận việc bán ma tuý cho Đ, ngoài lời khai của Đ thì không có tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh hành vi bán ma tuý của N do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
- - Đối với Chu Văn T2, sinh năm 1991 ở thôn C, xã H, huyện L được Đ lưu số điện thoại trong danh bạ tên “T2 lát”, cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với T2 để làm rõ nội dung tin nhắn về việc rủ chơi ma tuý, T2 và Đ đều khai nhận chưa từng sử dụng ma tuý cùng nhau bao giờ, tiến hành test ma tuý đối với T2, kết quả: T2 âm tính đối với chất ma tuý. Do vậy, không đề cập xử đối với T2 về hành vi này. Quá trình điều tra Vũ Văn Đ1 nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Các vấn đề trên, HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - 01 (một) vỏ túi nilon màu trắng, một đầu hở; 01 (một) chai thủy tinh có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp có 02 lỗ thủng, một lỗ cắm ống hút màu xanh, màu hồng; một lỗ cắm coóng thủy tinh, đáy chai có gắn đế nhựa hình tròn màu vàng (tất cả được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu “QT”), 01 bật lửa thu giữ tại nhà Đ, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, máy cũ đã qua sử dụng, số IMEI1: 864738042400895 và IMEI2: 864738042400887, số điện thoại 0367.849.xxx và 0566452770 và 01 xe mô tô Honda Dream, xe cũ đã qua sử dụng, không xác định được số khung, số máy liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số: 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Vũ Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331, khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Vũ Văn Đ 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù, về tội: "Tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy", thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17 tháng 9 năm 2024.
- Về vật chứng:
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) vỏ túi nilon màu trắng, một đầu hở; 01 (một) chai thủy tinh có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp có 02 lỗ thủng, một lỗ cắm ống hút màu xanh, màu hồng; một lỗ cắm coóng thủy tinh, đáy chai có gắn đế nhựa hình tròn màu vàng (tất cả được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu “QT”), 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng.
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, máy cũ đã qua sử dụng, số IMEI1: 864738042400895 và IMEI2: 864738042400887, số điện thoại 0367.849.xxx và 0566452770 và 01 xe mô tô Honda Dream, xe cũ đã qua sử dụng, không xác định được số khung, số máy.
(Đặc điểm vật chứng của vụ án theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang).
- Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Văn Đ phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cường chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vi Thị Hương Giang |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn Đông - Ma túy
