Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-ST

Ngày 27-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lành Văn Khánh
  2. Ông Nông Ngọc Lâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Mai Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Triệu Văn L, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1999 tại tỉnh Lạng Sơn. Số thẻ căn cước công dân: [...], cấp ngày 15/11/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn Đ và bà Phùng Thị T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Chưa từng bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật nhưng đã từng bị kết án tại Bản án số 10/2022/HS-ST ngày 14/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt Triệu Văn L 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chấp hành xong hình phạt ngày 26/7/2022, đã được xoá án tích. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/10/2024, tạm giam từ ngày 17/10/2024 cho đến nay. Có mặt.

2. Hứa Văn M, sinh ngày 24 tháng 6 năm 1992 tại tỉnh Lạng Sơn. Số thẻ căn cước công dân: [...], cấp ngày 15/11/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Văn C và bà Phùng Thị P (đều đã chết); chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: chưa từng bị xử lý kỷ luật nhưng đã từng bị kết án, xử lý hành chính như sau: Tại Bản án số 177/2020/HS-ST ngày 11/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt Hứa Văn M 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chấp hành xong hình phạt ngày 25/9/2021 đã được xoá án tích; tại Quyết định số 15/QĐ-TA ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hứa Văn M thời hạn 18 tháng, đã được xoá. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/10/2024, tạm giam từ ngày 08/11/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

  1. Bà Vũ Phương L1, sinh năm 1979, địa chỉ: Số D, ngõ H, đường N, thôn B, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt;
  2. Bà Hoàng Thị M1, sinh năm 1979, trú tại: Xóm N, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Mã Thị T1, sinh năm 1987, trú tại: Tổ F, khối C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt;
  2. Ông Lương Quý Đ1, sinh năm 1978, trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Chu Đức T2, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 14/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L nhận được đơn trình báo của bà Vũ Phương L1 về việc ngày 12/10/2024, bà Vũ Phương L1 bị mất 01 xe mô tô Honda Wave RSX, màu đỏ, biển kiểm soát 12X1 - 012.50 khi đang để tại khu vực ngõ H, đường N, thôn B, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Qua hình ảnh bà Vũ Phương L1 cung cấp, cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã xác định người thực hiện hành vi là Triệu Văn L. Cơ quan điều tra đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ của Triệu Văn L 01 chiếc xe mô tô Honda Wave RSX, màu đỏ, biển kiểm soát 12X1 - 012.50.

Tại cơ quan điều tra, Triệu Văn L khai nhận: Sáng ngày 12/10/2024, Triệu Văn L đi từ nhà tại thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đến thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, Triệu Văn L đi bộ đến khu vực ngõ H, đường N, thôn B, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn thì phát hiện đối diện nhà số D ngõ H, đường N đang dựng 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 12X1 - 012.50, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện, Triệu Văn L quan sát thấy không có ai trông coi nên Triệu Văn L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên, Triệu Văn L lấy trộm xe rồi đi đến nhà nghỉ P1 tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để hỏi thuê phòng với chị Mã Thị T1, rồi Triệu Văn L vay chị Mã Thị T1 số tiền 525.000đồng (năm trăm hai mươi năm nghìn đồng) và đặt chiếc xe mô tô trên làm tin. Sau khi vay được tiền, Triệu Văn L bỏ đi, số tiền trên Triệu Văn L đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngoài ra trước đó, sáng ngày 10/10/2024, Hứa Văn M là bạn bè quen biết ngoài xã hội với Triệu Văn L đến phòng trọ của Triệu Văn L tại địa chỉ khối A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn chơi. Đến khoảng 12 giờ, khi Triệu Văn L đi ra ngoài cổng phòng trọ thì thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 20N3-9496 của chị Hoàng Thị M1 đang dựng ở cổng không có ai trông coi nên Triệu Văn L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên. Triệu Văn L quay về phòng trọ rủ Hứa Văn M cùng đi trộm chiếc xe thì Hứa Văn M đồng ý. Sau đó, Hứa Văn M đứng quan sát, cảnh giới xung quanh, Triệu Văn L quay lại chỗ xe mô tô rồi dùng chiếc chìa khóa cổng nhà trọ của mình cắm vào ổ khóa xe mô tô của chị Hoàng Thị M1 thì mở được. Sau khi lấy trộm được xe, Triệu Văn L điều khiển chở Hứa Văn M đi tìm nơi tiêu thụ. Triệu Văn L và Hứa Văn M đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của ông Lương Quý Đ1, Triệu Văn L nói với ông Lương Quý Đ1 đang cần tiền để thăm mẹ tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L, cần vay ông Lương Quý Đ1 số tiền 1.000.000đồng (một triệu đồng) và đặt xe mô tô nêu trên làm tin, ông Lương Quý Đ1 đồng ý. Số tiền vay được, Triệu Văn L và Hứa Văn M đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 14/10/2025, Cơ quan điều tra triệu tập ông Lương Quý Đ1 để làm việc. Quá trình làm việc ông Lương Quý Đ1 giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 20N3 – 9496.

Ngày 25/10/2024, bà Hoàng Thị M1 đến Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn để trình báo sự việc mất xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 20N3 – 9496.

Ngày 30/10/2024, Hứa Văn M đến Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản cùng với Triệu Văn L vào ngày 10/10/2024.

Ngày 08/11/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn ban hành Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 77/QĐ-CQĐT, khởi tố bị can Triệu Văn L và Hứa Văn M về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 25/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã ban hành Quyết định chuyển vụ án hình sự để điều tra theo thẩm quyền số 30/QĐ-VKSCL và chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.

Theo Kết luận định giá tài sản số 83/KL - HĐĐGTS ngày 15/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xác định, chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ, biển kiểm soát 12X1 - 012.50 trị giá 9.000.000đồng (chín triệu đồng).

Theo Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn xác định chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 20N3 - 9496 trị giá 6.000.000đồng (sáu triệu đồng).

Kết quả xác minh xe mô tô Honda Wave RSX, màu đỏ, biển kiểm soát 12Х1 - 012.50 có chủ sở hữu là Chu Đức T2. Khoảng năm 2012, anh Chu Đức T2 không có nhu cầu sử dụng nên đã bán chiếc xe mô tô trên cho bà Vũ Phương L1, khi mua bán hai bên không làm giấy tờ.

Đối với xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 20N3 - 9496 có chủ sở hữu là Nguyễn Thị Kim S. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh Nguyễn Thị Kim S tại địa chỉ ghi trên đăng ký xe nhưng không có công dân nào có thông tin như trên đăng ký thường trú và sinh sống. Bà Hoàng Thị M1 trình bày khoảng năm 2021, bà Hoàng Thị M1 mua chiếc xe mô tô trên với một người không nhớ tên tuổi, khi mua không làm giấy tờ mua bán gì. Kết quả tra cứu xe máy vật chứng, chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.

Quá trình điều tra Triệu Văn L còn khai nhận khoảng tháng 9/2024, Triệu Văn L mượn của anh Lý Văn T3 (sinh năm 1998, trú tại thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, là người quen ngoài xã hội) 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu trắng, biển kiểm soát 90K1-2513 để làm phương tiện đi lại. Ngày 24/9/2024, khi Triệu Văn L đang điều khiển xe mô tô chở Hứa Văn M đi chơi thì hết tiền tiêu sài nên Triệu Văn L nảy sinh ý định bán chiếc xe mô tô trên. Triệu Văn L nói với Hứa Văn M đây là xe mô tô của gia đình mình đang cần bán nên cả hai đi đến cửa hàng xe máy của ông Hà Hiển T4 thỏa thuận cầm cố chiếc xe mô tô. Do Triệu Văn L không mang giấy tờ cá nhân nên nhờ Hứa Văn M là người viết giấy bán xe và dùng căn cước công dân của Hứa Văn M để làm tin.

Ngày 14/10/2024, Hà Hiển T4 đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L chiếc xe mô tô trên cùng với 01 giấy bán xe máy mang tên Hứa Văn M; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Hứa Văn M. Kết quả xác minh tại địa bàn xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Lý Văn T3 không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu, làm gì.

Hành vi trên của Triệu Văn L có dấu hiệu lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xảy ra tại địa bàn huyện C, do đó ngày 11/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã ban hành Quyết định số 46A/QĐ-HS về tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự để tiếp tục điều tra, xác minh.

Ngày 11/01/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn đã trả chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ - đen, biển kiểm soát 12X1 – 012.50 cho bà Vũ Phương L1 và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Honda Wave alpha màu đen - bạc, biển kiểm soát 20N3 - 9496 cho bà Hoàng Thị M1.

Về dân sự: Quá trình điều tra các bị hại Hoàng Thị M1 và Vũ Phương L1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường. Ông Lương Quý Đ1 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 1.000.000 đồng. Chị Mã Thị T1 đề nghị bị cáo Triệu Văn L bồi thường số tiền 525.000 đồng.

Với nội dung trên, tại Cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 07 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Triệu Văn L và Hứa Văn M về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng, không ai có ý kiến bổ sung. Bị cáo Hứa Văn M còn trình bày bị cáo được giải thích các thông tin trợ giúp pháp lý nhưng bị cáo không yêu cầu, bị cáo đề nghị được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị hại bà Vũ Phương L1 vắng mặt tại phiên toà, tại cơ quan điều tra và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Vũ Phương L1 trình bày: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 12/10/2024 bà Vũ Phương L1 phát hiện bị mất chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 12X1-012.50 để tại nhà số D, ngõ H, đường N, thôn B, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Sau đó, bà Vũ Phương L1 kiểm tra camera của gia đình thì phát hiện có một nam thanh niên cao 1m60, tóc đen, mặc quần ngố ngang đùi, áo cộc tay màu trắng, áo chống nắng dài tay màu xanh đến lấy trộm chiếc xe mô tô của bà. Nguồn gốc chiếc xe mô tô trên bà năm 2012 với người quen họ hàng với giá 19.000.000đồng, tên đăng ký xe là Chu Đức T2. Do đã nhận lại được tài sản, bà không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì và xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Triệu Văn L.

Bị hại Hoàng Thị M1 vắng mặt tại phiên toà, tại cơ quan điều tra và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Hoàng Thị M1 trình bày: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 10/10/2024 bà Hoàng Thị M1 để chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu đen bạc, biển kiểm soát 20N - 9496 trước cửa phòng trọ thuê tại khối A thị trấn C, đến khoảng 13 giờ cùng ngày bà phát hiện bị mất chiếc xe mô tô. Do đã nhận lại được tài sản, bà Hoàng Thị M1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Mã Thị T1 trình bày tại cơ quan điều tra như sau: Khoảng 13 giờ ngày 12/10/2024, chị đang trong quầy lễ tân nhà nghỉ P1 thì có một nam thanh niên đến đặt phòng chiều tối cùng ngày mới về nhận phòng, nam thanh niên nói vay tiền chị 500.000đồng để đi chơi và để lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda gửi lại làm tin, sau đó lại vay thêm chị tiền đi xe ôm, chị đưa 25.000đồng cho nam thanh niên. Đến 14/10/2024 thì cán bộ Công an dẫn nam thanh niên quay lại lấy xe, nói là xe trộm cắp. Đến nay, chị không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lương Quý Đ1 trình bày tại cơ quan điều tra như sau: Khoảng 14 giờ ngày 10/10/2024 ông Lương Quý Đ1 đang làm việc tại cửa hàng T5 ở thôn Đ, xã H, huyện C, có hai nam thanh niên điều khiển 1 chiếc xe nhãn hiệu Honda Wave màu đen mang biển kiểm soát 20N-9496 đến cửa hàng, người ngồi sau đứng ở ngoài cửa quán, người điều khiển xe vào nói mẹ đang trên bệnh viện đa khoa tỉnh L cần tiền gấp, cho người đó mượn 1.000.000đồng đến chiều bố của nam thành niên cầm tiền ra lấy xe. Ông Lương Quý Đ1 đưa cho nam thanh niên đó 800.000đồng và nhận chiếc xe mô tô trên. Khoảng 19 giờ cùng ngày chỉ có 01 nam thanh niên quay lại cửa hàng nói vay thêm 200.000đồng, mai bố người đó ra lấy xe. Ngày 14/10/2024, Công an thành phố L đến làm việc ông Lương Quý Đ1 tự nguyện giao xe cho Công an và đến nay ông không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại.

Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn L và Hứa Văn M phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
  • Về hình phạt:
    • Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38; 50; 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Văn L từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
    • Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, 38; 50; 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hứa Văn M từ 10 tháng đến 12 tháng tù.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo do không có tài sản riêng.
  • Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đề nghị do không ai yêu cầu bồi thường và không có vật chứng để xử lý.
  • Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng để nộp ngân sách nhà nước.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Triệu Văn L2 trình bày: Bị cáo gửi lời xin lỗi đến các bị hại, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất để sớm trở về gia đình, xã hội.

Bị cáo Hứa Văn M trình bày: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình, lao động trở thành người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng nhưng các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; hơn nữa, quá trình điều tra những người vắng mặt đều đã có lời khai có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, việc vắng mặt của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.

[3] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với biên bản xác định hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở để xác định:

[4] Ngày 10/10/2024 tại khối A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Triệu Văn L và bị cáo Hứa Văn M cùng thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 20N3-9496 trị giá 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) của bà Hoàng Thị M1. Ngày 12/10/2024, tại ngõ H, đường N, thôn B, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Triệu Văn L tự thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ, biển kiểm soát 12X1 - 012.50 trị giá 9.000.000đồng (chín triệu đồng) của bà Vũ Phương L1. Như vậy, bị cáo Triệu Văn L đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 15.000.000đồng, trong đó lần thực hiện hành vi trộm cắp ngày 10/10/2024 có bị cáo Hứa Văn M cùng thực hiện. Do đó, bị cáo Triệu Văn L phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập với hành vi trộm cắp thực hiện ngày 12/10/2024 và cùng bị cáo Hứa Văn M chịu trách nhiệm hình sự với hành vi ngày 10/10/2024.

[5] Xét thấy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[6] Hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đều đã từng bị kết án nên các bị cáo biết rõ hành vi của mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện là thể hiện thái độ coi thường pháp luật, vì vậy cần xử lý nghiêm minh các bị cáo để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung, trong đó cần xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của từng hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi các bị cáo đã gây ra.

[7] Hành vi các bị cáo thực hiện ngày 10/10/2024 mang tính đồng phạm, tuy nhiên các bị cáo không có sự chuẩn bị, bàn bạc, phân công tổ chức chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Triệu Văn L có vai trò cao hơn do là người khởi xướng và trực tiếp thực hiện trộm cắp tài sản, còn bị cáo Hứa Văn M có vai trò là người giúp sức, cảnh giới cho bị cáo Triệu Văn L trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp. Đối với hành vi ngày 12/10/2024 bị cáo Triệu Văn L tự thực hiện nên không có đồng phạm, bị cáo Triệu Văn L phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập như nhận định ở trên.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Triệu Văn L được bị hại bà Vũ Phương L1 xin giảm nhẹ hình phạt; sau khi sự việc bị phát hiện bị cáo Hứa Văn M đầu thú tại Công an huyện C, bị cáo Hứa Văn M còn là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vì vậy các bị cáo cùng được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[9] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Triệu Văn L 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp, mỗi lần thực hiện trộm cắp đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "phạm tội 02 lần trở lên" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hứa Văn M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[10] Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân không tốt, do các bị cáo đều đã từng bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng đã được xoá án tích, bị cáo Hứa Văn M còn đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng đã được xoá.

[11] Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, nhận thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với hành vi các bị cáo gây ra, trong đó cần quyết định mức hình phạt với bị cáo Triệu Văn L cao hơn mức hình phạt áp dụng với bị cáo Hứa Văn M.

[12] Về hình phạt bổ sung, theo kết quả xác minh tại nơi cư trú của các bị cáo cho thấy các bị cáo không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền, vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[13] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có yêu cầu bồi thường thiệt hại, do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo.

[14] Về việc xử lý vật chứng: Không có, do Công an thành phố L đã trả lại tài sản trộm cắp cho các bị hại, không còn vật chứng nào cần xử lý.

[15] Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, bị cáo Hứa Văn M thuộc trường hợp đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đề nghị miễn nộp án phí, do đó căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Hứa Văn M được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[16] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

[17] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự; áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự với bị cáo Triệu Văn L;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. 1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Triệu Văn L, Hứa Văn M phạm tội Trộm cắp tài sản.
  2. 2. Về hình phạt:
    • Xử phạt bị cáo Triệu Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/10/2024.
    • Xử phạt bị cáo Hứa Văn M 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/10/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

  3. 3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Không xem xét, giải quyết do không có ai yêu cầu.
  4. 4. Về xử lý vật chứng: Không có.
  5. 5. Về án phí: Buộc bị cáo Triệu Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước. Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Hứa Văn M.
  6. 6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Lạng Sơn;
  • - Phân trại tạm giam thành phố Lạng Sơn;
  • - VKSND TP. Lạng Sơn;
  • - CC THADS TP. Lạng Sơn;
  • - Các Bị cáo; bị hại; NCQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ, HСТР.

9

10

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Triệu Văn Lụng và Hứa Văn Mạnh phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger