Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-PT

Ngày 25 – 02 – 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Đoan Trang

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thúy Mai

Ông Nguyễn Văn Nghĩa

Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Hải - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 182/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Võ Đình T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 155/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Bị cáo có kháng cáo:

Võ Đình T, sinh ngày 06/5/1997 tại thị xã T, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm A, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Q (đã chết) và bà Trần Thị X; vợ, con: Chưa có; tiền án: 01. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 177/2021/HS-ST ngày 29/10/2021, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt Võ Đình T 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 10/10/2022, chấp hành xong hình phạt tù, ngày 04/7/2024 chấp hành xong án phí, chưa bồi thường trách nhiệm dân sự là 7.000.000 đồng cho anh Trịnh Văn T1 (tại Biên bản làm việc ngày 07/10/2024 anh T1 không yêu cầu T phải trả lại số tiền 7.000.000 đồng); tiền sự: Không; nhân thân: 01. Tại Quyết định Áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 10 ngày 14/6/2021, Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Võ Đình T vào Cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 20 tháng kể từ ngày 14/6/2021. Đến ngày 10/01/2022, T có Quyết định số 11 của Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc số 1 về việc đưa người ra khỏi cơ sở cai nghiện bắt buộc để thi hành án phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh V (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Đình T là đối tượng không nghề nghiệp và nghiện ma túy “đá” từ năm 2017 đến nay. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 08/8/2024, T đi bộ lang thang đến khu vực chợ thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây T gặp 01 nam giới lạ mặt, qua nói chuyện nam giới này tự giới thiệu tên là T2, khoảng 30 tuổi, T2 hỏi T có sử dụng ma túy “đá” không, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T trả lời “có”, T2 đưa cho T 01 gói nhỏ ma túy “đá”, bảo T cất đi để cùng sử dụng và bảo T đứng chờ để T2 đi mua bánh sinh nhật. T nhận ma túy cất giấu vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đứng đợi T2. Đến 12 giờ 00 phút cùng ngày, không thấy T2 quay lại nên T đi bộ theo ven đường tỉnh lộ 302 đến gần khu vực đèn xanh, đèn đỏ thuộc thôn T, xã H, huyện B thì bị Cơ quan công an nghi ngờ, kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Cơ quan điều tra đã thu giữ tại túi quần bên trái phía trước của Võ Đình T 01 túi nilon dạng túi zip, kích thước 03cm x 04cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng đá, màu trắng được niêm phong (ký hiệu là A), T khai đây là gói ma túy tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra còn thu mẫu nước tiểu của T (ký hiệu A1) để giám định.

Ngày 08/8/2024, Cơ quan điều tra – Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số 1430/QĐ-ĐCSHSKTMT trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh V giám định ma túy trong mẫu A đã thu giữ của Võ Đình T.

Tại Kết luận giám định số 2331/KL-KTHS ngày 12/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: “Chất tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1965gam”. H lại sau giám định gồm A = 0,1610 gam mẫu và bao gói.

Ngày 08/8/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số 1431/QĐ-ĐCSHSKTMT trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh V giám định ma túy trong mẫu nước tiểu A1 đã thu giữ của Võ Đình T.

Tại Kết luận giám định số 2389/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu của Võ Đình T – SN 1997, HKTT: Xóm A, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An".

Đối với đối tượng tên T2, là nam giới đưa ma túy cho Võ Đình T ngày 08/8/2024, quá trình điều tra xác định: Đây là 01 người đàn ông có đặc điểm khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1,65m, mặc quần bò dài màu xanh, đội mũ lưỡi trai màu xám, đao kính đen, xăm chữ ở hai cẳng tay, đi xe Lead màu xám, không có gương chiếu hậu”. T không biết người này là ai, có nhân thân, lai lịch như thế nào. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an xã H, huyện B theo nội dung T khai báo, nhưng chưa xác định được đối tượng nào có biểu hiện liên quan đến ma tuý trên địa bàn xã H như mô tả của T. Ngoài lời khai của T không có căn cứ nào khác xác định chính xác về đối tượng đã đưa ma tuý cho T ngày 08/8/20249/2023. Do vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xác minh, làm rõ.

Với nội dung nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 155/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Võ Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Đình T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 8/8/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử lý vật chứng, quyết định án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/11/2024, bị cáo Võ Đình T có đơn kháng cáo kêu oan. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xin giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Đình T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 155/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Võ Đình T làm trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. [2] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cho rằng: Quá trình điều tra, bị cáo bị Điều tra viên ép cung, dùng nhục hình. Tuy nhiên căn cứ vào Hồ sơ khám xét dấu vết trên thân thể của bị cáo có sự tham gia của bác sỹ, giám thị Trại tạm giam đều mô tả chi tiết các dấu vết trên thân thể bị cáo không có bất cứ biểu hiện gì của việc bị đánh đập, thể hiện sức khỏe hoàn toàn bình thường. Do đó, việc bị cáo cho rằng bị đánh đập, ép cung trong giai đoạn điều tra là không có căn cứ, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  3. [3] Xét kháng cáo của bị cáo Võ Đình T, Hội đồng xét xử xét thấy:
    1. [3.1] Trong Đơn kháng cáo ngày 27/11/2024 và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kêu oan, không thừa nhận hành vi phạm tội của mình và cho rằng quá trình điều tra bị Điều tra viên ép cung, bắt ký vào một số giấy tờ không có nội dung, bị cáo không thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 08/8/2024. Tuy nhiên căn cứ vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, Bản tự khai cùng các Biên bản hỏi cung bị can có sự tham gia của Kiểm sát viên thì bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai như tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các tài liệu này đều được bị cáo xác nhận tại phiên tòa phúc thẩm về tính chân thực của chữ ký, chữ viết. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 00 phút ngày 08/8/2024, tại ven đường C gần khu vực đèn xanh, đèn đỏ thuộc thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, Võ Đình T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1965 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện bắt quả tang.
    2. [3.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Ma tuý là mối hiểm hoạ cho mỗi gia đình và toàn xã hội, làm huỷ hoại sức khoẻ, suy giảm giống nòi, gây suy thoái đạo đức, lối sống, nhân phẩm của con người. Ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật, giết người...Do vậy, cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Võ Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không bị oan sai. Kháng cáo kêu oan của bị cáo là không có căn cứ, không được chấp nhận.
    3. [3.3] Bị cáo quanh co chối tội, không thành khẩn khai báo; lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm” nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh gia đình bị cáo là người có công với cách mạng, có ông và hai bác là liệt sỹ, bà nội là bà mẹ Việt Nam anh hùng, mẹ bị cáo hiện đang trực tiếp thờ cúng ba liệt sỹ nên cần phải cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm. Tuy nhiên mức án 01 năm 09 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, do vậy không cần thiết phải sửa án sơ thẩm.
  4. [4] Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm về việc không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm là có căn cứ, cần chấp nhận.
  5. [5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. [6] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Đình T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 155/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

    Tuyên bố: Bị cáo Võ Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Võ Đình T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 8/8/2024.

  2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Võ Đình T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 155/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND huyện Bình Xuyên;
  • - VKSND huyện Bình Xuyên;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ; Toà hình sự; HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Thị Đoan Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-PT ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự phúc thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 16/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger