|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/HS-ST
Ngày: 25/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Huệ
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và ông Phan Văn Tiến
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ tên: Nguyễn Đình T, sinh ngày 01/01/1975; nơi thường trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: lao động tự do; căn cước công dân số [...]; con ông Nguyễn Đình P (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Ư, sinh năm 1948. vợ: Đoàn Thị D, sinh năm 1973; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2013.
Nhân thân: Từ năm 1995 đến năm 1997 tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự, đóng quân tại Sư đoàn C2, trung đoàn 238, tiểu đoàn 285 (địa chỉ: tại T, thành phố Hải Phòng).
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khởi nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình từ ngày 30/9/2024 cho đến nay.
Có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Anh Trần Văn T1 (đã chết)
- Đại diện theo pháp luật của bị hại:
- + Chị Vũ Thị D1, sinh năm 1978 (vợ anh T1)
- + Cháu Trần Đặng Linh C, sinh năm 2002 (con anh T1)
- Cháu Trần Đặng Thùy L, sinh năm 2008 (con anh T1)
- Cháu Trần Đặng Việt H, sinh năm 2010 (con anh T1)
Đều có địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Đại diện theo pháp luật của cháu L, cháu H; đồng thời là đại diện theo ủy quyền của cháu C: Bà Vũ Thị D1, sinh năm 1978 (mẹ đẻ).
Đại diện theo pháp luật của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người làm chứng:
- - Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)
- - Ông Vũ Đình L1, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn B, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Ngày 23/07/2024, ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1968, trú tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (là cháu ruột của bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1934 trú tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình) được sự ủy quyền của bà T2, ông C1 đã gọi điện thoại cho Nguyễn Đình T thuê T thi công hạng mục đóng cốp pha để đổ mái tầng 01 nhà ở của bà Nguyễn Thị T2 với giá thỏa thuận 100.000 đồng/1m². Sau khi nhận được công trình, T gọi cho anh Trần Văn T1, sinh năm 1975, trú tại thôn T, xã T, huyện T và ông Vũ Đình L1, sinh năm 1968 trú tại thôn B, xã D, huyện T làm cho T; ông C1 cùng nhóm thợ thi công hạng mục đóng cốp pha cho nhà bà T2, khi thuê không ký hợp đồng lao động. Khoảng 9 giờ ngày 31/07/2024, T chỉ đạo tổ thợ 03 người gồm ông T1, ông L1, ông C1 cùng T bắt đầu đóng cốp pha để đổ mái tầng 1 nhà bà T2. Làm việc ở độ cao trên 03 mét nhưng T không trang bị phương tiện, công cụ lao động bảo đảm an toàn lao động, các phương tiện bảo vệ chống rơi, ngã tại nơi làm việc cho người lao động. Trong quá trình đóng, ghép cốp pha tầng 1 nhà ở bà Nguyễn Thị T2, thì ông L1, ông C1, T làm công việc bê cốp pha từ ngoài sân vào trong nhà, cắt, đo cốp pha, kê chân xà gỗ; ông Trịnh Đ trên bờ tường tầng 01 để chờ đóng hộp dầm cốp pha. Trong lúc đứng trên hộp dầm ở giữa nhà để chờ nhận cốp pha để đóng hộp dầm thì ông T1 bị ngã xuống nền nhà. Ông T1 bị thương được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1, huyện T, tỉnh Thái Bình, sau được chuyển đến Bệnh viện Đa Khoa tỉnh T điều trị. Đến 11 giờ 20 phút cùng ngày, ông T1 tử vong trên đường từ Bệnh viện về gia đình.
Tại Biên bản khám nghiệm tử thi và Kết luận giám định tử thi số 1189/KLGĐTT-KTHS ngày 20/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận về nguyên nhân chết của bị hại: Trên tử thi có các vết sây sát da, rách da, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, mặt, vai, tay và chân. Vỡ phức tạp xương sọ vùng trán phải, chảy máu não. Nạn nhân chết do chấn thương sọ não.
Bản cáo trạng số 18/CT-VKSTT ngày 16/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và diễn biến sự việc như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thuỵ giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” và đề nghị:
- - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T cải tạo không giam giữ từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000đồng/tháng.
- - Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự, chấp nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện bị hại về việc bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng; đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 viên gạch nung màu đỏ, loại gạch hai lỗ có dấu vết vỡ.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, vắng mặt đại diện theo pháp luật của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng họ đã có lời khai đầy đủ tại giai đoạn điều tra. Sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, lời khai người làm chứng. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập hồi 15 giờ 35 phút ngày 31/7/2024; Biên bản khám nghiệm tử thi và Kết luận giám định tử thi số 1189/ KLGĐTT-KTHS ngày 20/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T; Lời khai của người làm chứng: ông Vũ Đình L1, Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị T2; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 31/7/2024, tại công trình xây dựng nhà ở của bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1934, thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; trong quá trình thi công hạng mục đóng cốp pha tầng 1 nhà ở của bà T2, Nguyễn Đình T đã không tuân thủ quy định của pháp luật về an toàn lao động, không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn lao động dẫn đến tai nạn làm anh Trần Văn T1 bị ngã từ trên hộp dầm xuống đất và tử vong do chấn thương sọ não.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình T đã phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
* Bộ luật Lao động quy định:
Điều 132. Tuân thủ pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
Người sử dụng lao động, người lao động và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lao động, sản xuất, kinh doanh phải thực hiện quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
Điều 134. Bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc
1. Người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các giải pháp nhằm bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.
* Luật an toàn, vệ sinh lao động quy định:
Điều 5. Nguyên tắc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động
2. Tuân thủ đầy đủ các biện pháp an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình lao động; ưu tiên các biện pháp phòng ngừa, loại trừ, kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại trong quá trình lao động.
Điều 7. Quyền và nghĩa vụ về an toàn, vệ sinh lao động của người sử dụng lao động
2. Người sử dụng lao động có nghĩa vụ sau đây:
b) Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các quy định, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; trang bị đầy đủ phương tiện, công cụ lao động bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; thực hiện việc chăm sóc sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp; thực hiện đầy đủ chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động; ...
* Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia Q 18:2021/BXD về An toàn trong thi công xây dựng được ban hành kèm theo Thông tư 16/2021/TT-BXD20/12/2021 quy định:
2.7. Làm việc trên cao
2.7.1.5. Người lao động làm việc trên cao, trên mái phải được đào tạo, được trang bị đầy đủ các phương tiện bảo vệ, chống rơi, ngã theo quy định tại 2.19 và QCVN 23:2014/BLĐTBXH. Người sử dụng lao động phải cung cấp đầy đủ các phương tiện bảo vệ và thực hiện các biện pháp ĐBAT theo các quy định tại 2.7.2, 2.7.3 và phải kiểm tra, theo dõi sức khỏe của người lao động (thể chất và tinh thần) trước khi bắt đầu và trong khi làm việc.
2.19.1. Quy định chung
2.19.1.1. Ở những nơi làm việc có các yếu tố có hại hoặc yếu tố nguy hiểm hoặc làm việc trong các điều kiện bất lợi, người sử dụng lao động phải trang bị đầy đủ cho người lao động các PTBVCN bao gồm quần, áo, giày ủng, mũ, găng tay và các loại dụng cụ, phương tiện cần thiết khác phù hợp với loại hình công việc, loại rủi ro theo quy định của pháp luật về ATVSLĐ và hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền.
Điều 295 Bộ luật Hình sự quy định: Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người
1. Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
[4] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, hậu quả thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về an toàn lao động, đó là những quy định nhằm bảo vệ tính mạng, an toàn cho người lao động và mọi công dân.
Nguyễn Đình T là người sử dụng lao động, nhận thức được bản thân có trách nhiệm đảm bảo an toàn lao động, tuy nhiên bị cáo đã không thực hiện biện pháp đảm bảo an toàn cho người lao động khi làm việc tại công trình, không tiến hành huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động; làm việc ở độ cao trên 03 mét nhưng T không trang bị phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, các phương tiện bảo vệ chống rơi, ngã tại nơi làm việc cho người lao động; dẫn đến hậu quả tai nạn làm anh Trần Văn T1 bị ngã từ trên cao xuống đất và tử vong trong quá trình lao động. Tuy nhiên, hậu quả anh T1 tử vong nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo.
[5] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đại diện theo pháp luật của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[6] Về khấu trừ thu nhập: Xét thấy, bị cáo có công việc và thu nhập ổn định nên cần khấu trừ thu nhập hàng tháng của bị cáo để sung quỹ Nhà nước.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng. Đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 02 viên gạch nung màu đỏ, loại gạch hai lỗ có dấu vết vỡ, cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
- Hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36, Điều 50 Bộ luật Hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Thái Bình nhận được quyết định thi hành án.
- Giao bị cáo Nguyễn Đình T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Nguyễn Đình T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
- - Khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Đình T số tiền 1.000.000 đồng/tháng, trong thời gian 01 năm 03 tháng để sung quỹ Nhà nước. Trường hợp bị cáo không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thì bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật Dân sự, ghi nhận việc bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng. Đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 02 viên gạch nung màu đỏ, loại gạch hai lỗ có dấu vết vỡ.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/01/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy)
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 25/02/2025; đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Huệ |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về an toàn lao động (criminal case - sơ thẩm)
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động (Criminal Case - Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình T
