|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày 25-02-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Gia Khải.
Ông Đặng Ngọc Tân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Viết Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại phòng xét xử hình sự Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với:
Bị cáo: Lê Đức G; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam;
Sinh ngày 10/02/1979, tại xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
Nơi cư trú: Thôn L, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; bố đẻ: Lê Trung T (đã chết); mẹ đẻ: Bùi Thị D, sinh năm 1957; vợ: Mai Thị H, sinh năm 1981; có 2 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tháng 3/1999 tham gia nghĩa vụ quân sự đến tháng 5/2001 xuất ngũ; ngày 30/10/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 4 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản (tài sản dưới 2.000.000 đồng), thời gian thử thách 8 tháng tính từ ngày tuyên án (đã được xóa án tích); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 28/8/2024.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Vũ Đình T1, sinh năm 1988, nơi cư trú: Thôn M, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- Ông Lê Văn P, sinh năm1965, nơi cư trú: Thôn L, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
(Tại phiên tòa có mặt bị cáo G; vắng mặt anh T1, ông P).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do thấy nhiều người có nhu cầu vay tiền nên bị cáo Lê Đức G đã nảy sinh ý định cho người khác vay tiền với lãi suất cao để thu lợi bất chính. Từ ngày 02/7/2023 đến tháng 7/2024, G đã cho anh Vũ Đình T1 và cho ông Lê Văn P vay tiền, lãi suất từ 108% đến 360%/năm, gấp từ 5,4 lần đến 18 lần mức lãi suất cao nhất (20%/năm) quy định trong Bộ luật Dân sự. Quy định trả lãi theo tháng, vào ngày trùng của tháng tiếp theo. Việc chuyển tiền cho vay và trả lãi được G, anh T1 và ông P thực hiện thông qua chuyển khoản từ tài khoản số 3910021979 của G tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q đến tài khoản số 19028621335017 của anh T1 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần K và tài khoản số 0344139498 của ông P tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q và ngược lại hoặc trực tiếp đưa tiền mặt. Bằng cách thức trên, G cho anh T1 và ông P vay tiền, cụ thể như sau:
-
Anh Vũ Đình T1:
Trong khoảng thời gian từ ngày 02/7/2023 đến ngày 27/11/2023, G cho anh T1 vay 03 lần với tổng số tiền 100.000.000 đồng, lãi xuất từ 108% đến 360%/năm, gấp từ 6 lần đến 18 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Cụ thể:
- Ngày 02/7/2023, G chuyển số tiền 50.000.000 đồng từ tài khoản số 3910021979 của G tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q đến tài khoản số 19028621335017 của anh T1 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần K cho anh T1 vay. Hai bên thỏa thuận mức lãi suất là 5.000.000 đồng/tháng tính trên tổng số tiền vay, tương đương 120%/năm, gấp 6 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự; lãi suất tính theo tháng, việc trả lãi được thực hiện vào ngày trùng của tháng tiếp theo. Tính đến tháng 5/2024, anh T1 đã trả cho G 10 tháng tiền lãi với tổng số tiền 50.000.000 đồng, số tiền G thu lợi bất chính 41.666.667 đồng.
- Ngày 04/8/2023, anh T1 tiếp tục vay G số tiền 30.000.000 đồng, mức lãi suất 3.000.000 đồng/tháng, tương đương 120%/năm, gấp 6 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự; lãi suất tính theo tháng, việc trả lãi được thực hiện vào ngày trùng của tháng tiếp theo. G yêu cầu anh T1 viết giấy vay tiền, ghi cả nội dung khoản vay ngày 02/7/2024 vào giấy chuyển đến nhà cho G và chụp căn cước công dân của anh T1 gửi cho G. Ngày 05/8/2023, G sử dụng tài khoản ngân hàng trên chuyển số tiền 30.000.000 đồng vào tài khoản của anh T1 cho anh T1 vay. Tính đến tháng 5/2024, anh T1 đã trả cho G 09 tháng tiền lãi với tổng số tiền 27.000.000 đồng, số tiền G thu lợi bất chính 22.500.000 đồng.
- Ngày 27/11/2023, G sử dụng tài khoản ngân hàng trên chuyển số tiền 20.000.000 đồng vào tài khoản của anh T1 cho anh T1 vay, thời gian vay là 25 ngày, mức lãi suất là 200.000 đồng/ngày, tương đương 360%/năm, gấp 18 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Đến hạn thanh toán, anh T1 chưa có tiền trả nên G đã đồng ý cho anh T1 tính lãi khoản vay trên theo tháng, trả tiền lãi vào ngày trùng của tháng sau. Tính đến hết tháng 5/2024, anh T1 đã trả cho G 6 tháng tiền lãi với tổng số tiền 36.000.000 đồng, số tiền G thu lợi bất chính 34.000.000 đồng. Tổng số tiền G cho anh T1 vay là 100.000.000 đồng. Do không có khả năng thanh toán, anh T1 đã đề nghị G và G đồng ý không tính lãi kể từ tháng 6/2024 và sẽ thanh toán toàn bộ số tiền vay cho G khi có điều kiện.
-
Ông Lê Văn P:
Trong khoảng thời gian từ tháng 2/2023 đến 02/02/2024, G đã cho ông P đã vay 02 lần với tổng số tiền 15.000.000 đồng, lãi suất 108%/năm, gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Cụ thể:
- Tháng 12/2023, tại nhà của Lê Văn G1 ở thôn L, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình; G1 cho ông P vay số tiền 5.000.000 đồng, mức lãi suất là 450.000 đồng/tháng trên tổng số tiền vay, tương đương 108%/năm, gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự; thời gian trả lãi vào ngày trùng của tháng tiếp theo. Tính đến hết tháng 7/2024, ông P đã trả cho G1 07 tháng tiền lãi với tổng số tiền 3.150.000 đồng. Số tiền G1 thu lợi bất chính là 2.566.667 đồng.
- Ngày 02/02/2024, G1 đã chuyển số tiền 10.000.000 đồng từ tài khoản số 3910021979 của G1 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q đến tài khoản số 0344139498 của ông P tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q cho ông P vay. Mức lãi suất là 900.000 đồng/tháng trên tổng số tiền vay, tương đương 108%/năm, gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thời gian trả lãi vào ngày trùng của tháng tiếp theo. Tính đến tháng 7/2024, ông P đã trả cho G1 05 tháng tiền lãi với tổng số tiền lãi là 4.500.000 đồng, số tiền G1 thu lợi bất chính là 3.666.667 đồng.
Như vậy, xác định số tiền bị cáo G1 cho anh T1 vay là 100.000.000 đồng, số tiền lãi anh T1 đã trả cho G1 là 113.000.000 đồng, số tiền G1 thu lợi bất chính là 98.166.667 đồng, đến nay, anh T1 chưa trả tiền vay (tiền gốc) cho G1. Số tiền G1 cho ông P vay là 15.000.000 đồng, số tiền lãi ông P đã trả cho G1 là 7.650.000 đồng, số tiền G1 thu lợi bất chính là 6.233.334 đồng. Tất cả số tiền vay các lần vay của G1, anh T1 và ông P đều sử dụng vào mục đích chi tiêu cá nhân, không sử dụng số tiền trên vào mục đích bất hợp pháp.
Ngày 26/7/2024, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, bị cáo G1 đã giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9, lắp sim điện thoại số 0772.831.xxx sử dụng vào việc phạm tội. Ngày 27/7/2024, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của G1 tại thôn L, xã C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q không thu giữ tài sản, đồ vật gì.
Cáo trạng số 13/CT-VKSQP ngày 14/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo bị cáo G1 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo G1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trong bản cáo trạng. Sau khi phạm tội, bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền 70.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo G1, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo G1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Đề nghị áp dụng khoản 2, 3 Điều 201; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50, 38, 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đức G mức án từ 1 năm tù đến 1 năm 3 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng, kể từ ngày tuyên án; phạt bổ sung bị cáo 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước. Giao bị cáo cho UBND xã C, huyện Q để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Buộc bị cáo nộp lại số tiền lãi bị cáo đã thu được là 120.650.000 đồng (bao gồm tiền lãi theo lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 16.250.000 đồng và tiền thu lợi bất chính 104.400.000 đồng) để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 16.250.000 đồng và trả lại cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan 104.400.000 đồng. Cụ thể: Cho anh T1 số tiền 98.166.667 đồng; cho ông P số tiền 6.233.333 đồng. Chuyển số tiền 70.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại C (biên lai số C, ngày 07/01/2025) thành tiền phải thi hành án của bị cáo. Bị cáo phải tiếp tục nộp số tiền còn lại là 50.650.000 đồng.
Buộc anh Vũ Đình T1 nộp lại số tiền 100.000.000 đồng; ông Lê Văn P nộp lại số tiền 15.000.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi Note 9; tịch thu để tiêu hủy xác sim điện thoại số 0772.831.xxx.
Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải chăm sóc mẹ già bị bệnh thần kinh và nuôi 2 con đi học; cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện cải tạo tại cộng đồng trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo G đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus của anh T1 do Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập ngày 27/7/2024 và các bản in kèm theo có nội dung hội thoại trên tài khoản Zalo “Carrier” của anh T1 với tài khoản Zalo “Lê Hoàng” của bị cáo G; Biên bản kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9 của bị cáo G do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện lập ngày 26/7/2024 và các bản in kèm theo thể hiện tài khoản Zalo của G có tên là “Lê H1”; Bản sao kê tài khoản số 3910021979 tại ngân hàng M của bị cáo G từ ngày 01/7/2023 đến ngày 17/7/2024, thể hiện các giao dịch chuyển tiền vay và nhận tiền trả lãi vay của anh T1 và ông P; Bản sao kê tài khoản số 19028621335017 tại ngân hàng K của anh T1 từ ngày 01/7/2023 đến ngày 17/7/2024, thể hiện các giao dịch nhận tiền vay và chuyển tiền lãi vay đến tài khoản số 3910021979 tại ngân hàng M của G; Bản kết luận giám định số 7245/KL-KTHS ngày 21/10/2024 của V Bộ C1 kết luận: Trong mẫu vật gửi giám định tìm thấy 62 tin nhắn SMS, 20.689 tin nhắn Zalo, 9.366 tệp ảnh lưu trữ trong điện thoại; cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ tháng 7/2023 đến tháng 7/2024, tại nhà của bị cáo Lê Đức G, ở thôn L, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình, bị cáo G đã có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịnh dân sự đối với anh Vũ Đình T1 03 lần với tổng số tiền là 100.000.000 đồng và ông Lê Văn P 02 lần với tổng số tiền là 15.000.000 đồng. Lãi suất từ 108% đến 360%/năm, gấp từ 5,4 lần đến 18 lần mức lãi suất cao nhất (20%/năm) quy định trong Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền G cho vay là 115.000.000 đồng; số tiền lãi G đã nhận là 120.650.000 đồng; số tiền thu lợi bất chính là 104.400.000 đồng. Trong đó có 2 lần, G thu lợi bất chính số tiền trên 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; những lần còn lại, G thu lợi bất chính số tiền dưới 30.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo G đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ.
Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
-
Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
-
Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
-
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, cho vay với mức lãi suất vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%) gấp từ 5,4 lần đến 18 lần. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất ổn định trong các giao dịch dân sự, làm ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh toán nợ của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần phải lên một mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội cũng như việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho thấy: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, đã chủ động nộp lại số tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả tội phạm; có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự; bản thân là người thờ cúng bác ruột là liệt sỹ. Vì vậy, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đồng thời, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52. Ngoài ra, bị cáo đã bị xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản nhưng đã được xóa án tích, vì vậy Hội đồng xét xử cần xem xét khi lượng hình.
[5] Về quyết định hình phạt: Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có lý lịch, nơi cư trú ổn định rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bản thân năm 2007 bị xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng tài sản chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, đã được xóa án tích. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và bảo đảm mục đích hình phạt nói chung.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội về động cơ kinh tế, nhằm thu lợi bất chính, nên cần phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9 màu đen, lắp sim thuê bao số 0772.831.979 của bị cáo G đã dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu để hóa giá nộp vào ngân sách nhà nước. Xác sim lắp theo chiếc điện thoại cần tịch thu để tiêu hủy.
- Đối với số tiền 120.650.000 đồng bị cáo đã thu được, bao gồm: Số tiền 16.250.000 đồng là tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo phải nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; Số tiền 104.400.000 đồng là tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo nộp lại. Kết quả điều tra xác định, anh T1, ông P sử dụng tiền vay tiền để chi tiêu cá nhân, không sử dụng vào mục đích bất hợp pháp nên trả số tiền này cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, trong đó, cho anh T1 98.166.667 đồng; cho ông P 6.233.333 đồng. là phù hợp với Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Số tiền bị cáo G cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vay được xác định là công cụ phạm tội. Anh T1 và ông P chưa trả lại cho bị cáo nên buộc anh T1 nộp lại số tiền 100.000.000 đồng; ông P nộp lại số tiền 15.000.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Bị cáo G đã nộp số tiền thu lời bất chính 70.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, cần tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi Note 9; tịch thu để tiêu hủy xác sim điện thoại số 0772.831.xxx.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lý lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố:
Bị cáo Lê Đức G phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Đức G 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo G cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Phạt bổ sung bị cáo G 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
-
Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9 màu đen.
Tuyên tịch thu để tiêu hủy 01 xác sim điện thoại lắp trong chiếc điện thoại di động Redmi Note 9.
Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 16.250.000 đồng bị cáo G đã thu lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Tuyên trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan số tiền 104.400.000 đồng bị cáo G thu lời bất chính vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự gồm: Trả anh Vũ Đình T1 số tiền 98.166.667 đồng; trả ông Lê Văn P số tiền 6.233.333 đồng.
Chuyển số tiền 70.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Chi cục THADS huyện thành tiền phải thi hành án của bị cáo. Buộc bị cáo tiếp tục nộp số tiền còn lại là 50.650.000 đồng để thi hành án.
(Vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ; Số tiền 70.000.000 đồng bị cáo G đã nộp theo biên lai số 0003246 ngày 07/01/2025 hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ đang quản lý).
Buộc anh Vũ Đình T1 phải nộp lại số tiền 100.000.000 đồng; ông Lê Văn P phải nộp lại số tiền 15.000.000 đồng (tiền bị cáo G cho vay) để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
-
Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo G phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị cáo G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Minh Đức |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Đức G phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
