TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/HS-ST
Ngày: 21-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và bà Nguyễn Thị Liên
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Xuân Quảng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại phòng xử án Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý: 28/2025/TLST - HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 23/2025/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Trọng H. Tên thường gọi khác: không, sinh ngày 17/10/1997, tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trọng L, sinh năm 1975 và con bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1977; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ: Nguyễn Thị D; con: Có 01 con, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/12/2024 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Nghệ An. (Có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Nguyễn Công D1. Tên thường gọi khác: không, sinh ngày 20/8/1977, tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công B, sinh năm 1950 và con bà Hồ Thị C, sinh năm 1961; anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; vợ: Nguyễn Thị L1; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2005.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 04/4/2012 bị Tòa án Quân sự Khu vực I - QK6 xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" tại Bản án số 09/2012/HS-ST ngày 04/4/2012. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù vào ngày 15/7/2013 và thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm.
- Ngày 13/6/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy" tại bản án số 72/HS-ST ngày 13/6/2017. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù vào ngày 14/01/2019 và thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 13/6/2017.
- Ngày 29/10/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" tại Bản án số 209/2021/HS-ST ngày 29/10/2021. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù vào ngày 30/7/2022 và thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 29/10/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/12/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. (Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 2000. (Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1981. (Vắng mặt)
Trú tại: xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
Trú tại: xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Hồng S, sinh năm 2000.
Trú tại: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 06/12/2024, Trần Trọng H sử dụng tài khoản mạng xã hội Telegram của H có tên là “Tomorrow Wil Other” liên lạc với một người phụ nữ tên L2 ở huyện Y có tài khoản Telegram tên là “Mồm Đ (Khu N)” để hỏi mua 50 (Năm mươi) viên ma túy hồng phiến với giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). L2 yêu cầu H trả tiền trước để mua ma túy, H đồng ý và L2 nói H đi đến đường đi vào khu S để đưa tiền. Sau đó H đi bộ từ nhà đến đường đi vào khu sinh thái Mường Thanh D2 Lâm rồi gọi điện cho L2 và làm theo sự chỉ dẫn của L2 là đặt số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) ở gốc cây, xong rồi H đi về nhà và nhắn tin cho L2 báo là H đã để tiền ở vị trí mà L2 nói. Khoảng hơn hai tiếng sau thì L2 gọi điện cho H nói H đi đến gốc cây lúc nãy mà H đã đặt tiền để lấy ma túy. Sau đó, H đi bộ từ nhà đến địa điểm L2 chỉ dẫn, H thấy một gói nilon màu đen, bên trong có một gói nilon màu xanh, H nhận thức đây là ma tuý mà H mua của
L2 nên H cầm lấy gói ma tuý rồi đi về nhà. Sau khi về nhà, H đã lấy ra một ít ma tuý vừa mua của L2 để sử dụng, số ma tuý còn lại H cất giấu tại nhà với mục đích bán kiếm lời. Đến khoảng 20 giờ 15 phút, ngày 09/12/2024, Nguyễn Công D1 sử dụng tài khoản mạng xã hội Zalo có tên là “Nguyễn D1” nhắn tin đến tài khoản Zalo của H có tên là “Tomorrow Wil O” với nội dung: “15 nha, chuyển khoản nha” có nghĩa là D1 hỏi mua 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) ma túy hồng phiến với hình thức thanh toán chuyển khoản, H trả lời “không, tiền mặt”, một lúc sau H nhắn tin lại cho D1 với nội dung “chuyển khoản cũng được”. Sau đó, H gọi điện và hẹn D1 lên bờ đập xóm D, xã D, huyện D để giao ma túy, D1 đồng ý và H nhắn tin cho D1 số tài khoản 0345602417, ngân hàng M mang tên Nguyễn Thị D - là vợ của H để D1 chuyển tiền. Sau khi D1 chuyển khoản số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) đến số tài khoản ngân hàng M của Nguyễn Thị D thì D1 nhắn tin cho H là “Lên luôn nha, có rồi đó”, H trả lời “lên đỉ” và H lấy 12 (mười hai) viên ma tuý Methamphetamine bỏ vào gói nilon trắng rồi đi bộ đến điểm hẹn, còn số ma tuý còn lại H vẫn để trong gói nilon màu trắng và cất giấu ở nhà. Sau đó, Nguyễn Công D1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 37F1-967.19 đi từ nhà ở lên bờ đập thuộc xóm D, xã D, huyện D gặp H để lấy ma túy. Tại bờ đập xóm D xã D, H đưa cho D1 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có 12 (mười hai) viên ma tuý hồng phiến rồi H đi về, còn D1 cầm lấy gói ma túy vừa mua được rồi điều khiển xe máy hướng đi xuống bãi biển H thuộc xã D, huyện D để tìm nơi sử dụng. Đến 21 giờ 30 phút ngày 09/12/2024, khi D1 đang điều khiển xe máy di chuyển trên đường liên xã thuộc xóm P, xã D, huyện D thì bị Tổ Công tác Công an xã D, Diễn T phát hiện, bắt quả tang về hàng vi “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Vào hồi 08 giờ 45 phút ngày 10/12/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện D thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Trần Trọng H, phát hiện và thu giữ ở túi áo khoác bên phải mà H đang mặc 01 (một) gói nilon màu trắng, bên trong có 01 (một) gói nilon màu trắng, bên trong cùng có nhiều viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau, H khai nhận đó đều là ma túy hồng phiến của H; thu giữ 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh đã qua sử dụng, số IMEI 1: 353956104978073, số IMEI 2: 353956104797515, H khai nhận đó là điện thoại của H sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma tuý. Sau đó, Cơ quan điều tra Công an huyện D thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lập biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và niêm phong vật chứng, đưa Trần Trọng H về trụ sở Công an huyện D để làm việc.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại hồi 01 giờ 05 phút ngày 10/12/2024 và Kết luận giám định số
997/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 16/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:
- Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Công D1 gửi tới giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
- Số viên nén màu hồng (12 viên) có đặc điểm giống nhau thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Công D1 có khối lượng là 1,275 gam (Một phẩy hai trăm bảy mươi lăm gam).
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại hồi 15 giờ 45 phút ngày 10/12/2024 và Kết luận giám định số 998/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 16/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:
- Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Trần Trọng H gửi tới giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
- Số viên nén màu hồng (47 viên) có đặc điểm giống nhau thu giữ khi khám xét Trần Trọng H có tổng khối lượng là 4,95 gam (Bốn phẩy chín mươi lăm gam).
Tại biên bản mở niêm phong kiểm tra điện thoại đã thu giữ của Nguyễn Công D1 vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 16/12/2024, Nguyễn Công D1 thừa nhận số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) mà Nguyễn Công D1 chuyển khoản từ tài khoản Ngân hàng B1 của Nguyễn Công D1 đến số tài khoản Ngân hàng M1 mà Trần Trọng H gửi cho D1 là để mua ma tuý.
Tại biên bản mở niêm phong kiểm tra điện thoại đã thu giữ của Trần Trọng H vào hồi 14 giờ 35 phút ngày 16/12/2024, Trần Trọng H thừa nhận các nội dung tin nhắn trong ứng dụng Zalo tên “Tomorrow will Ol” của H đến tài khoản “Nguyễn D1” là tên tài khoản Zalo của Nguyễn Công D1, đều liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Trần Trọng H.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng gồm:
- Thu giữ của Nguyễn Công D1 khi bắt quả tang 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa 12 (Mười hai) viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau, nghi là ma túy, có tổng khối lượng cả bì là 1,850 gam, sau khi loại bỏ bì, 12 viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 1,275 gam. Lấy 04 viên nén màu hồng, có đặc điểm giống nhau có tổng khối lượng 0,435 gửi đi giám định, còn lại 08 viên nén màu hồng, có đặc điểm giống nhau có tổng khối lượng là 0,84 gam; 01 vỏ gói nilon màu trắng và và 01 phong bì thư niêm phong ban đầu được niêm phong theo quy định; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, màu đen, số IMEI1: 353220821771083, số IMEI2: 353319901771086, đã qua sử dụng; 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen đỏ, BKS: 37F1-967.19, đã qua sử dụng, số khung:
RLHJA381XGY102837; số máy: JA38E0206812, mang tên chủ xe Nguyễn Thị Lưu .
- Thu giữ của Trần Trọng H khi khám xét nơi nở 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, bên trong cùng có chứa các viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau, nghi là ma túy, có tổng khối lượng cả bì là 7,0 gam, sau khi loại bỏ bao bì có 47 viên nén màu hồng, có đặc điểm giống nhau, có tổng khối lượng là 4,95 gam. Lấy ngẫu nhiên 10 viên nén màu hồng, có đặc điểm giống nhau, có tổng khối lượng là 1,05 gam gửi đi giám định, còn lại 37 viên nén màu hồng, có đặc điểm giống nhau có tổng khối lượng là 3,9 gam và 02 túi nilon màu trắng, phong bì niêm phong ban đầu được niêm phong và 01 phong bì thư theo đúng quy định; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 353956104978073, số IMEI 2: 353956104797515.
Tại bản cáo trạng số: 32/CT-VKS-DC ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố Trần Trọng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Truy tố Nguyễn Công D1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử;
Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Trọng Htừ 07 (B) năm 06 (S1) tháng tù đến 08 (T) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Công D1 từ 24 (Hai mươi bốn) tháng đến (30) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về biện pháp tư pháp và vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- Truy thu từ bị cáo Trần Trọng H số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), là tiền bị cáo H bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Công D1 mà có.
- Tịch thu, tiêu hủy số vật chứng còn lại thu giữ của Nguyễn Công D1 gồm 08 (T) viên nén màu hồng là ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 0,84 gam sau khi đã lấy 04 (Bốn) viên nén màu hồng để giám định hết có tổng khối lượng 0,435 gam và 01 (Một) gói nilon màu trắng.
- Tịch thu, tiêu hủy số vật chứng còn lại thu giữ khi khám xét đối với Trần Trọng H gồm 37 (Ba mươi bảy) viên nén màu hồng là ma túy
Methamphetamine có tổng khối lượng 3,9 gam sau khi đã lấy 10 (Mười) viên nén màu hồng để giám định hết có tổng khối lượng 1,05 gam và 02 túi nilon màu trắng.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, màu đen, số IMEI1: 353220821771083, số IMEI2: 353319901771086, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Công D1.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 353956104978073, số IMEI 2: 353956104797515, thu giữ của Trần Trọng H.
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị L1 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen đỏ, BKS: 37F1-967.19, đã qua sử dụng, số khung: RLHJA381XGY102837; số máy: JA38E0206812, mang tên chủ xe Nguyễn Thị Lưu .
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận gì; lời nói sau cùng của các bị cáo sau khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Công an xã D, Công an xã D, Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà; các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa cho họ; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt; mặt khác lời khai của họ đã đầy đủ tại hồ sơ. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.
[3]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội, khai nhận hành vi thực hiện của
mình phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với biên bản khám xét khẩn cấp nơi ở, phù hợp với nội dung của Cáo trạng đã quy kết, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 06/12/2024, Trần Trọng H sử dụng số tiền 3.000.000 đồng để mua ma túy của một người phụ nữ tên L2 (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) loại ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 6,225 gam với mục đích bán kiếm lời. Cụ thể, vào ngày 09/12/2024, tại khu vực thuộc xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Trần Trọng H bán cho Nguyễn Công D1 12 (Mười hai) viên nén màu hồng là ma túy Methamphetamine với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), có tổng khối lượng 1,275 gam. Sau khi Nguyễn Công D1 mua được 12 (Mười hai) viên nén màu hồng là ma túy Methamphetamine của Trần Trọng H, D1 cầm ma túy, điều khiển xe máy đi hướng xuống biển H thuộc xã H để tìm nơi sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã D, Công an xã D phát hiện bắt quả tang. Vào ngày 10/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã tiến hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Trọng H tại xóm C, xã D, huyện D, thu giữ của Trần Trọng H gồm 47 viên viên nén màu hồng là ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 4,95 gam.
Như vậy, hành vi thực hiện của bị cáo Nguyễn Công D1 đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hành vi thực hiện của bị cáo Trần Trọng H đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý", với tình tiết định khung hình phạt là “Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4]. Về tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tính chất vụ án: Bị cáo Trần Trọng H thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng; bị cáo Nguyễn Công D1 thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi thực hiện của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù biết ma túy là chất gây nghiện, có tác hại xấu đến sức khỏe của con người, làm băng hoại đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục và gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của bản thân, gia đình và xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, Nhà nước đã nghiêm cấm các hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo Trần Trọng H chỉ vì hám lợi mà bất chấp pháp luật, để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi mua ma túy bán cho Nguyễn Công D1 để lấy số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Công
D1 muốn thỏa mãn cơn nghiện cũng như thái độ coi thường pháp luật, bị cáo đã mua ma túy của bị cáo Trần Trọng H với mục đích để sử dụng, bị cáo có nhân thân xấu đã hai lần bị Tòa án xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, một lần bị Tòa án xét xử về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu chí sửa chữa sai lầm mà vẫn lao vào con đường phạm tội, điều đó thể hiện các bị cáo coi thường kỷ cương pháp luật. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội cũng như tương xứng về tội danh thực hiện của từng bị cáo và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục, đồng thời ngăn ngừa tội phạm mới và răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; biên bản xác minh điều kiện kinh tế đối với các bị cáo và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa; thì các bị cáo làm nghề lao động tự do, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[5]. Về biện pháp tư pháp và vật chứng của vụ án:
[5.1]. Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Trần Trọng H bán cho Nguyễn Công D1 12 (Mười hai) viên nén hồng phiến là ma túy Methamphetamine với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Đây là tiền do thực hiện hành vi phạm tội mà có nên cần truy thu từ bị cáo H để nộp ngân sách Nhà nước.
[5.2]. Về vật chứng vụ án: Đối với 12 (Mười hai) viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 1,275 gam thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Công D1, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã lấy mẫu vật gửi giám định gồm 04 (Bốn) viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,435 gam và đã giám định hết, vật chứng còn lại là 08 (T) viên ma túy (Methamphetamine) có tổng khối lượng là 0,84 gam; đối với 47 (Bốn mươi bảy) viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 4,94 gam thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Trần Trọng H, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã lấy mẫu giám định gồm 10 (Mười) viên nén màu hồng, có tổng khối lượng 1,05 gam và đã giám định hết, vật chứng còn lại là 37 (Ba mươi bảy) viên ma túy (Methamphetamine) có tổng khối lượng 3,9 gam. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 353956104978073, số IMEI 2:
353956104797515, thu giữ của Trần Trọng H là chiếc điện thoại mà bị cáo H sử dụng, liên lạc mua ma túy của người phụ nữ tên L2 và sử dụng liên lạc bán ma túy cho Nguyễn Công D1, là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, màu đen, số IMEI1: 353220821771083, số IMEI2: 353319901771086, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Công D1, là chiếc điện thoại mà bị cáo D1 sử dụng, liên lạc mua ma túy của bị cáo H, là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda wave RSX, màu đen đỏ, BKS: 37F1-967.19, đã qua sử dụng, số khung: RLHJA381XGY102837; số máy: JA38E0206812, mang tên chủ xe Nguyễn Thị Lưư, là chiếc xe máy mà bị cáo D1 sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy nhưng chị Lưu K biết. Chiếc xe máy là tài sản hợp pháp của chị L1 nên cần trả lại chiếc xe máy cho chị Nguyễn Thị Lưu .
[6]. Về nội dung liên quan khác: Đối với người phụ nữ tên L2 đã bán ma túy cho Trần Trọng H (theo lời khai của H), do không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra Công an huyện D không có căn cứ để xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với chị Nguyễn Thị D (vợ của Trần Trọng H), là chủ sử dụng số tài khoản 034560241 của Ngân hàng M, việc bị cáo H cho bị cáo D1 số khoản của chị D để thực hiện hành vi phạm tôi, chuyển số tiền 1.500.000 đồng vào tài khoản của chị D để H bán ma túy cho D1, chị D không biết. Số tiền từ việc bán ma túy của Trần Trọng H, H đã rút hết để tiêu xài cá nhân. Vì vậy, chị Nguyễn Thị D không phạm tội.
[7]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công D1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Tuyên bố bị cáo Trần Trọng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công D1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/12/2024.
Căn cứ vào: Điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Trọng H 07 (Bảy) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/12/2024.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Về biện pháp tư pháp: Truy thu từ bị cáo Trần Trọng H số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng:
Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) phong bì thư được niêm phong theo đúng quy định, dán kín trên mép dán có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đối tượng Nguyễn Công D1 cùng hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An. Bên trong có chứa vật chứng thu giữ của Nguyễn Công D1 còn lại sau khi lấy mẫu giám định gồm: 08 (Tám) viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau, nghi là ma túy có tổng khối lượng là 0,84 gam (Không phẩy tám mươi bốn gam); 01 (Một) vỏ gói nilon màu trắng và 01 (Một) phong bì thư niêm phong ban đầu.
Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) phong bì thư được niêm phong theo đúng quy định, dán kín trên mép dán có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đối tượng Trần Trọng H cùng hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An. Bên trong có chứa vật chứng thu giữ của Trần Trọng H còn lại sau khi lấy mẫu giám định gồm: 37 (Ba mươi bảy) viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau, nghi là ma túy có tổng khối lượng là 3,9 gam (Ba phẩy chín gam) và 02 (Hai) túi nilon màu trắng, phong bì thư niêm phong ban đầu.
Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 353956104978073, số IMEI 2: 353956104797515, thu giữ của Trần Trọng H.
Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, màu đen, số IMEI1: 353220821771083, số IMEI2: 353319901771086, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Công Dung
Tuyên trả lại cho chị Nguyễn Thị L1 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda wave RSX, màu đen đỏ, BKS: 37F1-967.19, đã qua sử dụng, số khung: RLHJA381XGY102837; số máy: JA38E0206812.
Vật chứng hiện đang lưu tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/02/2025 giữa Cơ
quan Cảnh điều tra Công an huyện D và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu và phiếu nhập kho ngày 07/02/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Nguyễn Công D1 và Trần Trọng H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thanh Minh |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy
