Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:16/2025/HSST

Ngày: 20-02-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Thông
  • 2. Bà Lương Thị Bảo Thuỳ

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lanh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện KSND Thành phố L tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thạch T - Kiểm sát viên.

Ngày 20/02/2025 tại hội trường A Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 22/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 03/01/2025 đối với bị cáo:

Huỳnh Thị Kim L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1977; Nơi sinh: Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam: Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Con ông: Huỳnh Nhật S; Sinh năm 1940 (đã chết) và bà: Huỳnh Thị Kim Q; Sinh năm 1944 (đã chết); Gia đình có 09 anh, chị, em; lớn nhất sinh năm 1964, nhỏ nhất sinh năm 1979, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình; Chồng, con: Chưa có; Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 08/9/2011, bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung: phạt tiền: 10.000.000 đồng, thu lợi bất chính: 2.200.000 đồng, án phí Hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng. Ngày 29/7/2018, L chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa chấp hành các hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm.

Huỳnh Thị Kim L bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 12/9/2024, đến ngày 21/9/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L.

* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Thành H, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo có mặt; người làm chứng vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Thị Kim L là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2011, loại và hình thức sử dụng là chích ma túy Heroin.

Ngày 09/9/2024, L bắt xe lên quận D, thành phố Hồ Chí Minh gặp một người phụ nữ tên “Hai” (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 gói nylon màu trắng chứa Heroin và 01 gói nylon màu trắng chứa ma túy đá, với giá 10.000.000 đồng, bỏ vào trong túi xách, mang về cất giấu tại nhà, thuộc ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Sáng ngày 12/9/2024, L lấy túi xách bên trong có 01 gói Heroin và 01 gói ma túy đá mang đến thành phố L, tỉnh Đồng Nai thuê phòng nghỉ ở lại để gặp bạn. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi L đang đi bộ trên đường N, thuộc khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an thành phố L kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang trong túi xách da màu vàng của L có 01 gói nylon màu trắng chứa ma túy Heroin và 01 gói nylon màu trắng chứa ma túy đá. Công an tiến hành niêm phong tang vật và đưa L về làm việc.

Tại bản kết luận giám định số 1824/KL-KTHS ngày 18/9/2024, Phòng K Công anh tỉnh Đồng Nai kết luận:

Mẫu tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 4,9738 gam, loại: Methamphetamine.

Mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 18,4195 gam, loại: Heroin.

Trong vụ án này, bị cáo tàng trữ 02 chất ma túy được quy định trong cùng 01 điểm của Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), nên áp dụng Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số Điều của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì tổng khối lượng các chất ma túy là 4,9738 gam + 18,4195 gam = 23,3933 gam. Đối chiếu tổng khối lượng các chất ma túy được quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Như vậy, hành vi nêu trên thuộc trường hợp quy định tại điểm n, khoản 2, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Vật chứng thu giữ và xử lý:

Số ma túy thu giữ sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 1824/KL-KTHS ngày 19/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ và 01 túi đeo chéo da, màu vàng, chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKSLK ngày 20/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Huỳnh Thị Kim Liên về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm n, khoản 2, Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị áp dụng điểm n, khoản 2, Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52, Điều 38 - Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Kim Liên T1 07 năm đến 08 năm tù.

Vật chứng thu giữ và xử lý: Toàn bộ số ma túy sau giám định được hoàn lại trong gói niêm phong số 1842/KL-KTHS ngày 19/9/2024 của Phòng K Công anh tỉnh Đồng Nai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo khẳng định khai báo tự nguyện, không ai ép buộc. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo L khai nhận vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/9/2024, khi L đang đi bộ trên đường N, thuộc khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an thành phố L kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang trong túi xách da màu vàng của L có 01 gói nylon màu trắng chứa ma túy Heroin và 01 gói nylon màu trắng chứa ma túy đá. Tại bản kết luận giám định số 1824/KL-KTHS ngày 19/9/2024, Phòng K Công anh tỉnh Đồng Nai kết luận:

Mẫu tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 4,9738 gam, loại: Methamphetamine.

Mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 18,4195 gam, loại: Heroin.

Bị cáo L thừa nhận bị cáo nghiện ma tuý từ năm 2011 và ngày 09/9/2024 bị cáo đã lên thành phố Hồ Chí Minh mua ma tuý về để sử dụng dần. Bị cáo tàng trữ 02 chất ma túy được quy định trong cùng 01 điểm của Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Đối chiếu tổng khối lượng các chất ma túy được quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Như vậy, hành vi nêu trên thuộc trường hợp quy định tại điểm n, khoản 2, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) nên cáo trạng truy tố bị cáo L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm n, khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, đã từng bị xử phạt tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với mức hình phạt 08 năm tù vào năm 2011, sau khi chấp

hành án xong, chưa được xoá án tích và bản thân bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý nhưng không biết rèn luyện bản thân, cai nghiện ma tuý mà vẫn tiếp tục sử dụng và mua về sử dụng dần nên bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử phạt nghiêm để bị cáo có thời gian cai nghiện cũng như rèn luyện bản thân, sống biết tuân thủ pháp luật.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có 01 tiền án nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về vật chứng: Số ma túy thu giữ sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 1824/KL-KTHS ngày 19/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ và 01 túi đeo chéo da, màu vàng đề nghị tịch thu tiêu huỷ. (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh ngày 21/01/2025).

[6] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với người phụ nữ tên “Hai”, bán ma túy cho L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Viện kiểm sát thành phố L phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm n, khoản 2, Điều 249, điểm s, khoản 1, Điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52, Điều 47, Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị Kim L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Kim L 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2024.

Về vật chứng: tịch thu tiêu huỷ số ma túy thu giữ sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 1824/KL-KTHS ngày 19/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ và 01 túi đeo chéo da, màu vàng. (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh ngày 21/01/2025).

Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thị Kim L phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an TP. Long Khánh;
  • - VKSND TP. Long Khánh;
  • - Thi hành án TP. Long Khánh;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ thi hành án;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu án văn;
  • - Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hải Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HSST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 16/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Kim L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger