Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HSST

Ngày: 20 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Anh Đào
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Xuân Tùng
2. Ông Phạm Xoa

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Cán bộ Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân quận Hải Châu – C L, quận H, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/HSST ngày 02.01.2025 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Quang K - sinh ngày 14 tháng 11 năm 1999 tại tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT: Bản T, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La. Nơi tạm trú: H N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Số CMND/CCCD: [...] cấp ngày 17 tháng 11 năm 2022; Nơi cấp: Cục C về TTXH. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Con ông: Trần Ngọc N (sinh năm: 1976, sống) và bà Trần Thị T (sinh năm: 1979, sống). Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ 01.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

- Ông Nguyễn Hữu H – sinh năm 1991. (vắng mặt)

Trú tại: E N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

- Ông Trần Hoàng G – sinh năm 1989 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bà Nguyễn Thị L – sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: 6 T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.

1

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hộ kinh doanh Nội thất ô tô Bảo An. Địa chỉ: D - D N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện hộ kinh doanh: Ông Trần Trung H1 – sinh năm 1989. Chỗ ở: H N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09h30' ngày 02/5/2020, anh Trần Hoàng G điều khiền xe ô tô hiệu Mitsubishi Xpander, biển số 43A-536.14 đến Cửa hàng nội thất ô tô B, địa chỉ: D - D N, phường H, quận H, TP . do anh Trần Trung H1 làm chủ, để làm nội thất xe.

Đến khoảng 15h30' cùng ngày, sau khi làm nội thất xong, Trần Quang K là nhân viên của cửa hàng, đã tự ý điều khiển xe ô tô ra trước cửa hàng để trống chỗ cho xe khác vào sửa. Do chưa có giấy phép lái xe ô tô theo quy định, xử lý kém và không làm chủ được thao tác nên đã đạp nhầm chân ga, làm xe lao nhanh, tông vào cổng nhà số E N, P. Hòa Cường B, Q. H, TP Đà Nẵng, do anh Nguyễn Hữu H làm chủ sở hữu, làm xe ô tô biển số 43A-536.14 và cổng nhà bị hư hỏng nặng.

Đến khoảng 18h00' cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, ghi nhận dấu vết, các phần hư hỏng của xe ô tô và cổng nhà của anh H.

Theo Kết luận định giá tài sản số 119/KL-HĐĐG ngày 17/7/2020, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND quận H, kết luận: Trị giá thiệt hại của xe ô tô biển số 43A-536.14 là 129.407.300 đồng; cổng nhà anh H là 2.500.000 đồng. Tổng cộng: 131.407.300 đồng

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSHC ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Trần Quang K về tội "Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản" theo khoản 1 Điều 180 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 180, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 36 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Trần Quang K từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản".
  • - Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã được bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập xem xét.
  • - Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy được lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

2

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tại phiên toà hôm nay bị cáo Trần Quang K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 15h30' ngày 02/5/2020, tại Cửa hàng N1, địa chỉ: D - D N, phường H, quận H, TP ., Trần Quang K có hành vi tự ý điều khiển xe ô tô biển số 43A-536.14 của anh Trần Hoàng G ra trước cửa hàng để trống chỗ cho xe khác vào sửa. Do chưa có giấy phép lái xe ô tô theo quy định, xử lý kém và không làm chủ được thao tác nên đã đạp nhầm chân ga, làm xe lao nhanh, tông vào cổng nhà số E N, P. Hòa Cường B, Q. H, TP . của anh Nguyễn Hữu H, làm xe ô tô và cổng nhà bị hư hỏng. Trị giá tài sản bị thiệt hại là: 131.407.300 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản” theo khoản 1 điều 180 Bộ luật hình sự.

Như vậy, cáo trạng số 06/CT-VKSHC ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện thấy rằng hành vi này của bị cáo đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của người khác. Do đó cần xử lý nghiêm đối với hành vi phạm tội này của bị cáo.

[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Quang K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Trần Quang K phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Sau khi thực hiện hành vi vô ý gây thiệt hại tài sản cho người khác, bị cáo đã nhận thức được trách nhiệm và đền bù thiệt hại cho bị hại; bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Trần Quang K từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ là nặng. Hội đồng xét xử thấy rằng chỉ cần áp dụng Điều 34 Bộ luật Hình sự để

3

tuyên hình phạt cảnh cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo chú ý chấp hành các quy định và quy tắc an toàn trong cuộc sống.

[5] Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã được bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập xem xét.

* Đối với ông Trần Trung H1: Không phân công, không biết K tự ý điều khiển xe mô tô trên dẫn đên gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản người khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H không xử lý là có căn cứ.

[6] Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000đ ( hai trăm ngàn đồng ).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Quang K phạm tội “Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”.

Căn cứ khoản 1 điều 180; điều 34; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Quang K hình phạt cảnh cáo.

2. Về án phí:

Áp dụng điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Trần Quang K phải chịu là 200.000đ ( hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Hội thẩm nhân dânThẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

4

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thị Anh Đào

Nơi nhận:

  • - Tòa án TP Đà Nẵng.
  • - VKSND thành phố Đà Nẵng;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Công an quận Hải Châu;
  • - PHSNV CA quận Hải Châu;
  • - Chi cục THA quận Hải Châu;
  • - UBND phường Hòa An;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HSST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về vụ án hình sự về tội "vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản"

  • Số bản án: 16/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố bị cáo Trần Quang Khải phạm tội “Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”. Căn cứ khoản 1 điều 180; điều 34; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Quang Khải hình phạt cảnh cáo. 2. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Trần Quang Khải phải chịu là 200.000đ ( hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận đ¬ược bản sao bản án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger