|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19-02-2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1. Bà Bùi Thị Vân
- 2. Ông Lê Công Nhận
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Bốn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 264/2024/TLST-HNGĐ ngày 31/10/2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/12/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 07 ngày 21/01/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H năm 1997
- ĐKTT: Khu 1 thị trấn Thanh Hà, Thanh Hà, Hải Dương.
- Hiện ở: Xóm 6, thôn Tiêu Xá, Liên Mạc, Thanh Hà, Hải Dương
- - Bị đơn: Anh Hoàng Văn Đ năm 1991
- Địa chỉ: Khu A, T, Hải Dương
* Người làm chứng:
- - Bà Đặng Thị N năm 1960; địa chỉ: Khu A, T, Hải Dương
- - Bà Trần Thị L năm 1976; địa chỉ: Xóm F, thôn T, L, T, Hải Dương.
(Tại phiên toà, chị Hanh Đ1, bà N1 Lđều vắng mặt nhưng đã có đơn hoặc ý kiến xin xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- * Theo đơn xin ly hôn và lời khai của nguyên đơn thể hiện: Chị H kết hôn với anh Đ vào ngày 20/10/2021 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do vợ chồng không hợp nhau, không hiểu nhau, thiếu sự cảm thông chia sẻ nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Từ tháng 2/2024 chị đã bỏ về nhà đẻ ở và vợ chồng chị sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Đ nên chị kiên quyết xin ly hôn với anh Đ.
- Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Hoàng Phương N2, sinh ngày 07/12/2023. Hiện nay chị làm công nhân, thu nhập trung bình là 8 triệu đồng/tháng. Khi ly hôn, chị xin nuôi con chung và yêu cầu anh Đ cấp D nuôi con mức 2 triệu đồng/1 tháng.
- Về tài sản, công sức, nợ chung: Không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- * Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày về thời gian kết hôn, việc đăng ký kết hôn như nguyên đơn khai nêu trên. Sau khi cưới, vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng chưa thực sự hiểu nhau, cả hai vợ chồng đều nóng tính, từ đó mà xảy ra xô xát, cãi nhau. Từ tháng 2/2024 chị H1 ý bế con về nhà đẻ ở, anh đã sang tìm chị H2, gia đình hai bên đã thuyết phục nhưng chị H3 quyết không về đoàn tụ. Do con còn nhỏ nên anh không đồng ý ly hôn với chị H4 muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cho con đỡ khổ. Vợ chồng anh có 01 con chung, tên tuổi như chị H5 khai. Nếu buộc phải ly hôn anh nhất trí để chị H6 con và đồng ý cấp dưỡng nuôi con mức như chị H7 xuất. Anh không yêu cầu giải quyết về tài sản, công sức, nợ chung. Hiện anh làm nhân viên kinh doanh tại công ty, thu nhập trung bình là 10 triệu đồng/tháng.
- * Lời khai của người làm chứng là bà Trần Thị L1(mẹ đẻ chị H và bà Đặng Thị N3(mẹ đẻ anh Đ2 như kết quả xác minh tại địa phương thể hiện: Trong thời gian chung sống, vợ chồng chị Hanh Đ3 nảy sinh mâu thuẫn dẫn đến xô sát, sống ly thân nhau từ nhiều tháng nay, không ai quan tâm đến ai. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng chưa thực sự hiểu nhau, bất đồng về quan điểm sống. Vợ chồng chị Hanh Đ4 01 con chung như anh chị đã khai. Ngoài ra bà L2 ý kiến vợ chồng bà sẽ hỗ trợ chị H chăm sóc cháu N1 và tạo điều kiện về chỗ ở ổn định cho mẹ con chị H
Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt.
Đại diện VKSND huyện Thanh Hà phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) và nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, 228, 229, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân, xử Chị H ly hôn với anh Đ. Về con chung: Giao con chung là Hoàng P N1 sinh ngày 7/12/2023 cho chị H dưỡng đến khi con chung thành niên. Anh Đ trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mức 2 triệu đồng/tháng. Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn, bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó họ đã đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng theo quy định tại Điều 227, 228, 229 Bộ luật tố tụng dân sự.
- [2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị H4 Đ có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, tỉnh Hải Dương trên cơ sở tự nguyện nên là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ lời khai của các đương sự, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị Hanh Đ1 đã nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng chưa thực sự hiểu nhau, thiếu sự thông cảm, sẻ chia, từ đó dẫn đến xô xát, cãi chửi nhau. Thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ nhiều tháng nay. Trước đây chị H đã từng làm đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Đ5 Tòa án khuyên giải chị H5 rút đơn khởi kiện. Đến nay, tình trạng vợ chồng chị H vẫn không được cải thiện nên chị H8 tục khởi kiện xin ly hôn với anh Đ. Anh Đ không muốn ly hôn nhưng cũng không đưa ra được giải pháp hữu hiệu nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng chị Hanh Đ3 thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H là cơ cơ sở, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- [3]. Về con chung: Vợ chồng chị H9 01 con chung là Hoàng P N1 sinh ngày 7/12/2023. Chị H10 nuôi con, anh Đồng N4 T để chị H6 con vì cháu N1 còn rất nhỏ. Xét nguyên đơn, bị đơn đều thống nhất chị H11 nuôi con nếu vợ chồng ly hôn; ngoài ra chị H có chỗ ở, việc làm và thu nhập ổn định, cháu N1 hiện dưới 36 tháng tuổi nên về nguyên tắc được giao cho mẹ nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy cần giao con chung cho chị H6 dưỡng là phù hợp với ý chí của các bên đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi của con chung.
Chị H yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung mức 2 triệu đồng/tháng, anh Đồng nhất T cấp dưỡng theo mức chị H7 xuất. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của các đương sự, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [4]. Về tài sản, công sức, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy HĐXX không xem xét.
- [5]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn, bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Đặng Thị H12 ly hôn anh Hoàng Văn Đ6
- 2. Về con chung: Giao con chung là Hoàng P N1 sinh ngày 7/12/2023 cho chị H6 dưỡng đến khi con chung thành niên. Anh Đ4 trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mức 2.000.000đ (hai triệu đồng)/tháng kể từ tháng 01/2025 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).
Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- 3. Về án phí: Chị Đặng Thị H13 chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn, được đối trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005938 ngày 24/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; chị H5 thi hành xong nghĩa vụ về án phí. Anh Hoàng Văn Đ7 chịu 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
- 4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhung |
Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mâu thuẫn từ lâu
