Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 16/2025/HSST

Ngày: 19/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thụy

Ông Nguyễn Hà

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương T – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST- HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXX ngày 10 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐHPT ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN VĂN L, sinh năm: 1988; Giới tính: Nam; ĐKTT: TDP N, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi ở: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Đình H (Đã chết); Con bà: Dương Thị T1; Không có vợ; Có 01 con sinh năm: 2014; Tiền án, tiền sự: 03 tiền án:

Bản án số 26/HSST ngày 22/8/2008 TAND huyện Tam Dương xử 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản”. Xác minh việc chấp hành nghĩa vụ thi hành án dân sự: đã nộp ngày 26/9/2008. Xác định đã được xóa án tích.

Bản án số 486/HSST ngày 18/11/2014 TAND thành phố Hà Nội xử 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ra trại ngày 11/01/2020. Xác minh việc chấp hành nghĩa vụ thi hành án dân sự: án phí và phần bồi thường dân sự, đã nộp ngày 04/02/2005. Ra trại ngày 11/01/2020. Xác định chưa được xóa án tích.

Bản án số 140/HSST ngày 18/8/2020 TAND quận Ba Đình xử 54 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Phạm tội ngày 25/3/2020. Xác minh việc chấp hành nghĩa vụ thi hành án dân sự: án phí và phần bồi thường dân sự, đã nộp ngày 19/01/2021. Ra trại ngày 25/12/2023. Xác định chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 30/9/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số I - Công an thành phố H. Số giam: 5389E2/Buồng: 6D. (Bị cáo có mặt).

Người bị hại: Bà Lương Thị H1, sinh năm: 1959; Nơi cư trú: Số A ngách C ngõ A P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội (Có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Chị Đào Thị M, sinh năm 1979; Nơi cư trú: P Chung cư B, số B N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội (Có mặt).

Người làm chứng: Anh Nguyễn Huy H2, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Số D ngách A N, phường N, quận B, thành phố Hà Nội (Có mặt).

Những người chứng kiến: Anh Ngô Quang V, sinh năm 2006, ĐKHKTT: Số C T, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội; Ông Đồng Xuân Đ, sinh năm 1963, ĐKHKTT: Số D Khu tập thể B Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội; Anh Nguyễn Văn V1, sinh năm 1975, ĐKHKTT: Số H ngách A đê T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Anh Bùi Tiến Đ1, sinh năm 2007, Nơi cư trú: Số C T, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19h00' ngày 30/9/2024, Nguyễn Văn L một mình điều khiển xe máy Honda AirBlade màu đen không gắn biển số, di chuyển qua nhiều tuyến phố. Khi đến phố Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội hướng đi phố N, Nguyễn Văn L phát hiện bà Lương Thị H1 (SN: 1959; Nơi cư trú: Số A ngách C ngõ A P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội) đang điều khiển xe đạp điện hướng cùng chiều phía trước. Quan sát trên cổ bà H1 có đeo một sợi dây chuyền bằng vàng, L tăng ga áp sát bà H1. Khi đến đoạn trước nhà số C N, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội, L áp sát bà H1 từ phía sau bên phải, dùng tay trái giật sợi dây chuyền trên cổ bà H1, rồi tăng ga tẩu thoát.

Toàn bộ hành vi phạm tội của Nguyễn Văn L bị đồng chí Nguyễn Huy H2 (Là cán bộ Công an phường Đ) đang làm nhiệm vụ trên địa bàn phát hiện, chứng kiến, đồng chí H2 đã điều khiển xe máy đuổi theo hướng phố Nguyễn Tri P (Hướng ra phố P), đến cổng số 9 N thì quay ngược lại hướng Đ rẽ phải hướng H, đến cổng số 28 Đ (B) rồi tiếp tục quay ngược lại hướng phố Đ rẽ trái vào phố T. Khi đến đoạn trước số B T, đồng chí Hoàng đuổi kịp, áp sát ép xe của L, khiến cả hai xe máy đổ ra đường. Lúc này, L bỏ chạy lên vỉa hè, đồng chí H2 đuổi theo giữ L thì bị L cắn vào mu bàn tay trái, đồng thời L dùng tay phải thò vào túi quần bên phải của mình rút sợi dây chuyền vừa cướp giật được ném xuống đường. Sau đó, L bỏ chạy sang đường, rồi quay lại dựng chiếc xe máy của mình thì bị đồng chí Hoàng cùng một số người dân bắt giữ. Sau khi giữ được L, đồng chí Hoàng nhặt sợi dây chuyền L vừa vứt phi tang (Cách vị trí bắt giữ khoảng 0,5 mét), giơ lên cho người dân chứng kiến thì L giật lại và nói: “Dây chuyền này tao nhặt được”, rồi ném lại xuống đường. Sự việc này được nhân chứng quan sát, chứng kiến. Đồng chí Hoàng cùng Công an phường Đ đã tiến hành lập biên bản bắt quả tang, đưa L cùng các tang vật, mời nhân chứng và những người có liên quan về trụ sở làm rõ.

Thương tích của đồng chí Nguyễn Huy H2: Dấu vết hình dạng răng cắn ở mu bàn tay trái, rỉ máu. Đồng chí H2 đã được sơ cứu tại Bệnh viện Đ2-Pôn.

Rà soát camera tại khu vực xung quanh hiện trường: Ghi nhận hình ảnh đối tượng có đặc điểm mặc quần áo đen, điều khiển xe máy đen không gắn biển số phóng nhanh về phía phố Phan Đình P1, theo sau đó là một người điều khiển xe máy đuổi theo là đồng chí Nguyễn Huy H2.

Vật chứng thu giữ:

Thu giữ của đồng chí Nguyễn Huy H2:

  • + 01 (Một) sợi dây chuyền bằng kim loại dài khoảng 50cm, bản rộng 2mm, có các mối nối hình lục giác khoét tròn ở các đầu (đã qua sử dụng). Đây là tài sản L chiếm đoạt của bị hại Lương Thị H1 vào tối ngày 30/9/2024.
  • + 01 (Một) sợi dây chuyền bằng kim loại vàng dài khoảng 50cm, bản rộng 1mm, có các mối nối hình bầu dục (Đã qua sử dụng).

Theo Bản kết luận định giá tài sản số: 91/KLĐG-HĐĐGTS ngày 07/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản quận B, kết luận: 01 (Một) sợi dây chuyền bằng kim loại vàng dài khoảng 50cm, bản rộng 2mm có các mối nối hình lục giác khoét tròn ở các đầu, trọng lượng 1,4 chỉ (Đã qua sử dụng), trị giá: 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).

Tại Bản kết luận giám định số: 8009/KL-KTHS ngày 15/11/2024, của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận 01(một) sợi dây chuyền bằng kim loại vàng 1,4 chỉ, dài 48cm, bản rộng 2mm, khối lượng 5,402 gam, có hàm lượng vàng: 46,42%; 01 (Một) sợi dây chuyền bằng kim loại vàng 0,71 chỉ, dài 46,2cm, bản rộng 1mm, có đoạn nối bị đứt, khối lượng 2,675 gam, có hàm lượng vàng: 75,20%.

Thu giữ của Nguyễn Văn L: 01 (Một) chiếc áo phông nam màu đen; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 promax, số imei: 358701815827960, lắp sim: 0982.601.881, 0923.688.118 (Đã qua sử dụng). Qua kiểm tra không phát hiện dữ liệu có nội dung liên quan đến vụ án; Số tiền 520.000 đồng (Năm trăm hai mươi nghìn đồng); 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen không gắn biển số, số khung: RLHJK1406RZ213624, số máy: JK14E0350803 (Đã qua sử dụng). Qua kiểm tra bên trong cốp xe có 01 (Một) biển kiểm soát 29G2-186.30. Đây là phương tiện Nguyễn Văn L sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Tại cơ quan điều tra, lúc đầu Nguyễn Văn L khẳng định không thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Quá trình điều tra, L không hợp tác làm việc, không ký các biên bản, từ chối khai báo hành vi phạm tội của mình. L chỉ xác nhận: 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại vàng dài khoảng 50cm, bản rộng 1mm, có các mối nối hình bầu dục; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen không gắn biển số, số khung: RLHJK1406RZ213624, số máy: JK14E0350803 (Đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax, imei: 358701815827960, lắp sim: 0982.601.881, 0923.688.118 (Đã qua sử dụng) đều là tài sản của chị Đào Thị M (SN: 1979; Nơi cư trú: P Chung cư B, số B N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội)

Ngày 01/10/2024, bà Lương Thị H1 đến Công an phường Đ trình báo vụ việc. Tại cơ quan điều tra, bà H1 khai: Khi bà H1 bị cướp giật sợi dây chuyền thì có anh Nguyễn Huy H2 - cán bộ Công an phường Đ điều khiển xe máy phóng đuổi theo xe của đối tượng. Bà Lương Thị H1 nhận dạng được tài sản bị cướp giật là 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại dài khoảng 50cm, bản rộng 2mm, có các mối nối hình lục giác khoét tròn ở các đầu, trọng lượng 1,4 chỉ.

Người chứng kiến: Anh Ngô Quang V (SN: 2006, nơi ở: C T, phường Đ, B, Hà Nội); Bùi Tiến Đ1 (SN: 2007, nơi ở: C T, phường Đ, B, Hà Nội) chứng kiến anh Nguyễn Huy H2 bắt giữ Nguyễn Văn L. Anh V, anh Đ1 trực tiếp nhìn thấy L dùng tay phải rút ra từ túi quần phải 01 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng vứt xuống đường gần vị trí xe máy bị đổ.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn L không khai nhận hành vi phạm tội của mình, không chấp hành các hoạt động điều tra, nhưng căn cứ vào lời khai người bị hại, biên bản nhận dạng, lời khai người làm chứng trực tiếp là anh Nguyễn Huy H2, lời khai các nhân chứng là anh Ngô Quang V, Bùi Tiến Đ1; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản thu giữ, kết quả giám định, kết quả định giá tài sản, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ xác định Nguyễn Văn L dùng thủ đoạn nguy hiểm là xe máy để thực hiện hành vi cướp giật tài sản là 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại dài khoảng 50cm, bản rộng 2mm, có các mối nối hình lục giác khoét tròn ở các đầu của bà Lương Thị H1.

Đối với 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng dài 50cm, bản rộng 2mm, có các mối nối hình lục giác khoét tròn ở các đầu, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho bà Lương Thị H1. Bà H1 đã nhận lại đầy đủ tài sản, không có yêu cầu đề nghị khác về dân sự.

Đối với phần thương tích ở mu bàn tay trái của anh Nguyễn Huy H2, tích nhẹ, không ảnh hưởng đến sức khỏe. Anh H2 không đi khám thương, từ chối giám định pháp y thương tích và không có đề nghị bồi thường gì về dân sự.

Đối với sợi dây chuyền kim loại màu vàng dài khoảng 50cm, bản rộng 1mm, có các mối nối hình bầu dục và 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen không gắn biển số, số khung: RLHJK1406RZ213624, số máy: JK14E0350803- giám định số khung, số máy là nguyên thủy - là tài sản của chị Đào Thị M (sinh năm 1979, nơi cư trú: P1905 Chung cư Bộ C, số B N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội) - bạn gái của Nguyễn Văn L. Chị M có cho L mượn sợi dây chuyền để đeo vào khoảng giữa tháng 9/2024. Xe máy chị M cho L mượn vào sáng ngày 30/9/2024 để L đi công việc, khi giao xe cho L xe có lắp biển kiểm soát 29G2-186.30 đầy đủ. Chị M không biết L sử dụng chiếc xe máy trên vào việc phạm tội.

Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại điểm d, đ, i, khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về hành vi phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, đ, i, khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đề nghị về hình phạt: Áp dụng điểm d, đ, i, khoản 2, khoản 5 Điều 171; Điều 38, Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 05 năm đến 06 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Trả lại cho chị Đào Thị M 01 (Một) sợi dây chuyền bằng kim loại vàng dài khoảng 50cm, bản rộng 1mm, có các mối nối hình bầu dục (Đã qua sử dụng) và 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen không gắn biển số, số khung: RLHJK1406RZ213624, số máy: JK14E0350803 (Đã qua sử dụng) và 01 biển kiểm soát 29G2 – 186.30; Trả lại cho bị cáo 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 promax, số imei: 358701815827960, lắp sim: 0982.601.881, 0923.688.118 (Đã qua sử dụng) và 01 (Một) chiếc áo phông nam màu đen (Đã qua sử dụng); Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 520.000 đồng.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người bị hại, người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

[1] Quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, về thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19h, ngày 30/9/2024, tại trước nhà số C N, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn L đã có hành vi dùng thủ đoạn nguy hiểm là xe máy để thực hiện hành vi cướp giật tài sản là 01 (Một) sợi dây chuyền bằng kim loại dài khoảng 50cm, bản rộng 2mm, có các mối nối hình lục giác khoét tròn ở các đầu của bà Lương Thị H1. Trị giá tài sản: 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố Nguyễn Văn L về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, đ, i, khoản 2, Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Thông qua diễn biến vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa cho thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác; bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả của hành vi nhưng vẫn thực hiện là có lỗi cố ý thực hiện hành vi cướp giật tài sản.

Khi xem xét quyết định mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét bị cáo có 02 tiền án về tội “Cướp giật tài sản”, lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm. Nhân thân bị cáo có 01 tiền án đã được xoá án tích về tội “Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” thể hiện bị cáo đã được Nhà nước giáo dục cải tạo nhưng vẫn không chịu tu dưỡng mà lại tiếp tục phạm tội, do vậy phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo khai nhận hành vi phạm tội của mình nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[3] Về xử lý vật chứng: Trả lại cho chị Đào Thị M 01 (Một) sợi dây chuyền bằng kim loại vàng dài khoảng 50cm, bản rộng 1mm, có các mối nối hình bầu dục (Đã qua sử dụng) và 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen không gắn biển số, số khung: RLHJK1406RZ213624, số máy: JK14E0350803 (Đã qua sử dụng) và 01 biển kiểm soát 29G2 – 186.30; Trả lại cho bị cáo 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 promax, số imei: 358701815827960, lắp sim: 0982.601.881, 0923.688.118 (Đã qua sử dụng) và 01 (Một) chiếc áo phông nam màu đen (Đã qua sử dụng); Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 520.000 đồng.

Các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Ba Đình theo biên bản giao vật chứng số 72 ngày 13/01/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B; Biên bản giao nhận tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận B với Kho bạc Nhà nước quận B số 159 ngày 22/01/2025 và giấy chuyển tiền số 11125102 ngày 10/01/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại, người liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Áp điểm d, đ, i, khoản 2, khoản 5 Điều 171; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Các Điều 106; 136; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/9/2024.

  4. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho chị Đào Thị M 01 (Một) sợi dây chuyền bằng kim loại vàng dài khoảng 50cm, bản rộng 1mm, có các mối nối hình bầu dục (Đã qua sử dụng) và 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen không gắn biển số, số khung: RLHJK1406RZ213624, số máy: JK14E0350803 (Đã qua sử dụng) và 01 biển kiểm soát 29G2 – 186.30; Trả lại cho bị cáo 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 promax, số imei: 358701815827960, lắp sim: 0982.601.881, 0923.688.118 (Đã qua sử dụng) và 01 (Một) chiếc áo phông nam màu đen (Đã qua sử dụng); Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 520.000 đồng (Năm trăm hai mươi nghìn đồng).

Các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Ba Đình theo biên bản giao vật chứng số 72 ngày 13/01/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B; Biên bản giao nhận tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận B với Kho bạc Nhà nước quận B số 159 ngày 22/01/2025 và giấy chuyển tiền số 11125102 ngày 10/01/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B.

Án phí HSST: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đinh Ngọc Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HSST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp giật tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 16/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN L, sinh năm: 1988; Giới tính: Nam; ĐKTT: TDP N, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi ở: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Đình H (Đã chết); Con bà: Dương Thị T1; Không có vợ; Có 01 con sinh năm: 2014;
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger