Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM YÊN

TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 16/2025/HS-ST.

Ngày 19/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG .

-Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Đức Quỳnh;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Văn Bốn;
  2. Ông Nguyễn Duy Sự;

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên tham gia phiên toà: Ông Nhữ Hồng Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang mở phiên toà sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS, ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 01/2025/HSST-QĐ ngày 21/01/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vừ Văn H; Sinh ngày 01/02/2001; Giới tính: Nam;

Nơi cư trú: Xóm K, xã M, huyện B, tỉnh Cao Bằng;

Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; trình độ học vấn: 10/12; con ông Vừ A S, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Lầu Thị V, sinh năm 1962; anh chị, em ruột: Có 10 người, bị cáo là thứ chín; vợ Dương Thị S1, sinh năm 2002; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2023;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú

(Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Vừ A S, sinh năm 1959; nơi cư trú: Xóm K, xã M, huyện B, tỉnh Cao Bằng (đã chết do tai nạn giao thông).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Anh Lầu Văn C, sinh năm 1990; nơi cư trú: Xóm L, thị trấn P, huyện B, tỉnh Cao Bằng (là con rể của ông Vừ A S)

(Vắng mặt nhưng có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 04/8/2024, Vừ Văn H, sinh ngày 01/02/2001, trú tại thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Cao Bằng điều khiển xe mô tô biển số 11B1-488.74 ngồi phía sau là ông Vừ A S sinh năm 1959 (bố đẻ của H) đi từ xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang để về nhà theo đường Q hướng Tuyên Quang - Hà Giang. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến K+900 Quốc lộ B, thuộc thôn E, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang là đoạn đường vòng sang phải theo hướng đi Hà Giang, trời mưa, mặt đường ướt, phía trước cùng chiều là 01 chiếc xe ô tô đầu kéo (không xác định biển số và người điều khiển), H điều khiển xe sang phần đường bên trái theo chiều đi để vượt xe ô tô đầu kéo. Cùng thời điểm trên, ông Bùi Văn T, sinh năm 1984, trú tại thôn A T, xã Y, huyện H đang điều khiển xe ô tô, biển số 29Y-9150 (xe của ông Bùi Văn T1, sinh năm 1962, bố của T) di chuyển theo hướng Hà Giang - Hà Nội ở phần đường bên trái. Phát hiện xe ô tô, H đồng thời bóp phanh tay, đạp phanh chân, nhưng do trời mưa, đường ướt khiến bánh xe bị trượt làm xe đổ nghiêng sang trái, văng rê trên mặt đường va chạm vào phần đầu xe ô tô biển số 29Y-9150 khiến ông S và H bị ngã xuống đường. Hậu quả: Ông S và H bị thương được ông T đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện H, nhưng do thương tích nặng đến 09 giờ 30 phút cùng ngày ông S chết, hai phương tiện bị hư hỏng.

Tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở và xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Vừ Văn H và Bùi Văn T, kết quả: Không có nồng độ cồn trong hơi thở và âm tính với chất ma túy.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 12 giờ 15 phút ngày 04/8/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện H (hướng khám nghiệm theo hướng Hà Giang - Hà Nội), xác định: Nơi xảy ra vụ tai nạn là đoạn đường rải nhựa, mặt đường phẳng ở giữa kẻ sơn đứt quãng màu vàng rộng 7,3m, vòng cua sang trái. Vị trí số (1) là vết cầy ngắt quãng, gấp khúc đổi hướng xước mặt đường. Vết đầu tiên có chiều hướng Hà Nội - Hà Giang, chếch sang trái, dài 2,2m sau đó đổi hướng thành vết thứ hai, chiều hướng Hà Giang - Hà Nội chếch sang phải hướng ra phía lề đất cỏ bên phải đường, dài 6,5m. Tâm điểm khởi đầu cách mép đường phải 1,4m, kết thúc tại giá để chân trước bên trái xe mô tô biển số 11B1-488.74 và nằm ngoài mép đường phải 36cm. Vị trí số (2) là xe mô tô biển số 11B1-488.74, sau tai nạn bị đổ nghiêng sang trái, trục bánh sau bên trái xe cách mép đường phải 12cm, trục bánh trước bên trái xe nằm ngoài mép đường phải 1,02m. Vị trí số (3) là vết phanh trượt lốp của xe ô tô biển số 29Y-9150, tâm điểm khởi đầu cách mép đường phải 40cm, tâm điểm kết thúc nằm ngoài mép đường phải 80cm, kết thúc tại lốp trước bên phải xe ô tô. Vị trí số (4) là xe ô tô biển số 29Y-9150, đầu trục bánh trước bên trái cách mép đường phải 80cm, đầu trục bánh sau bên trái cách mép đường phải 1,35m.

Tại Bản kết luận giám định số: 1059/KL-KTHS, ngày 26/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T đối với tử thi Vừ A S, kết luận nguyên nhân chết do chấn thương sọ não.

Tại Bản kết luận giám định số: 1125/KL-KTHS, ngày 04/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

  1. Vị trí va chạm đầu tiên trên hiện trường giữa xe mô tô biển số 11B1 488.74 với xe ô tô biển số 29Y-9150 là tại vị trí gấp khúc, đổi hướng của dấu vết số 1 theo Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ và thuộc làn đường bên phải theo hướng Hà Giang đi Tuyên Quang là phù hợp.
  2. Các vết cong vênh, móp méo, trượt xước sơn, bám dính mảnh ma-tít, tạp chất màu nâu (dạng sơn) tại thân xe bên phải gồm mặt ngoài phía dưới ống xả, kim loại cố định giá để chân sau bên phải, trục sau bên phải của xe mô tô biển số 11B1-488.74 (Ảnh số 9 trong Bản ảnh giám định) hình thành do va chạm với vùng vết gãy vỡ, trượt xước, bong tróc mất sơn, ma-tít tại mặt trước dưới bên trái ba-đờ-sốc trước xe ô tô biển số 29Y-9150 (Ảnh số 10 trong Bản ảnh giám định) là phù hợp.

  3. Không đủ căn cứ xác định vận tốc của hai phương tiện ngay trước thời điểm va chạm.
  4. Tại thời điểm xảy ra va chạm xe mô tô biển số 11B1-488.74 đang đổ nghiêng, văng rê trên mặt đường hướng Tuyên Quang - Hà Giang thì va chạm với xe ô tô biển số 29Y-9150 di chuyển theo hướng Hà Giang đi Tuyên Quang là phù hợp.

Tại Bản kết luận giám định số: 1088/KL-KTHS, ngày 04/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

  1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong file video gửi giám định. Đặc điểm về người, phương tiện, nội dung, diễn biến sự việc được mô tả chi tiết trong Bản ảnh giám định kèm theo. File video gửi giám định được sao lưu ra 01 (một) đĩa DVD-R.
  2. Thời điểm xảy ra tai nạn giao thông xe ô tô gắn camera hành trình di chuyển ở phần đường bên phải theo hướng di chuyển của xe ô tô; xe mô tô (hoặc xe gắn máy) di chuyển ở phần đường bên trái theo hướng di chuyển của xe mô tô (hoặc xe gắn máy). Không đủ cơ sở xác định tốc độ của các phương tiện ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn giao thông.

Tại kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐĐGTS ngày 04/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận đối với xe ô tô biển số 29Y-9150 bị hư hỏng sau tai nạn như sau: Tổng trị giá tài sản bị thiệt hại tại thời điểm ngày 04/8/2024 là 2.422.500 đồng (Hai triệu bốn trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng).

Tại kết luận định giá tài sản số: 19/KL-HĐĐGTS ngày 25/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận đối với xe mô tô biển số 11B1- 488.74 bị hư hỏng sau tai nạn như sau: Tổng trị giá tài sản bị thiệt hại tại thời điểm ngày 04/8/2024 là 8.200.410 đồng (Tám triệu hai trăm nghìn bốn trăm mười đồng).

Tại Cáo trạng số: 08/CT-VKSHY, ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên đã truy tố Vừ Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vừ Văn H về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vừ Văn H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho Vừ Văn H 01 xe mô tô biển số 11B1-488.74, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX FI; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 11001689 mang tên Bùi Văn L; 01 giấy phép lái xe số [...], hạng A1, mang tên Vừ Văn H; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số [...]/EXMBB.10. Về phần dân sự bị cáo và đại diện bị hại đã thoả thuận bồi thường xong, đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác; ông Bùi Văn T, là người điều khiển xe ô tô, biển số 29Y-9150 và chủ xe là ông Bùi Văn T1, bố đẻ của ông T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét. Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Viện kiểm sát.

Đại diện gia đình bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng thời không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Nói lời sau cùng bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo giáo dục tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo, biên bản khám nghiệm hiện trường, các kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 04/8/2024, tại Km182+900 Quốc lộ B Hà Nội - Hà Giang, thuộc thôn E, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, Vừ Văn H, sinh ngày 01/02/2001, trú tại thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Cao Bằng điều khiển xe mô tô biển số 11B1-488.74 chở theo ông Vừ A S sinh năm 1959 (bố đẻ của H) theo hướng Hà Nội - Hà Giang vượt xe ô tô không đảm bảo các điều kiện theo quy định (vi phạm khoản 11 Điều 8; khoản 2, điểm a khoản 5 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ) dẫn đến va chạm với xe ô tô biển số 29Y-9150 do ông Bùi Văn T, sinh năm 1984, trú tại thôn A Thống Nhất, xã Y, huyện H điều khiển đi theo hướng Hà Giang - Hà Nội khiến ông S và H bị ngã xuống đường. Hậu quả: ông S chết, hai phương tiện bị hư hỏng, trị giá 10.622.910 đồng (Mười triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn chín trăm mười đồng). Hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không đảm bảo an toàn mà bị cáo đã thực hiện là vi phạm các quy định của pháp luật khi tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn dẫn đến hậu quả nạn nhân chết, đã phạm vào tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng là hoàn toàn đúng người, đúng tội, có căn cứ, không oan.

Hành vi mà bị cáo thực hiện xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của bị hại, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, đã được cấp Giấy phép lái xe đúng quy định, hoàn toàn nhận thức được khi tham gia giao thông phải tuân thủ đầy đủ các quy tắc tham gia giao thông và các quy định của pháp luật. Việc để xảy ra tai nạn giao thông dẫn đến cái chết của bị hại là ngoài ý muốn của bị cáo nhưng vẫn xuất phát từ ý thức chủ quan của bị cáo khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông không đảm bảo an toàn, nên không xử lý được tình huống, xe mô tô do bị cáo điều khiển va chạm trực tiếp vào cơ thể người bị hại dẫn đến bị hại bị thương tích và chết. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Từ giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Mông), cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn có những hạn chế nhất định. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội với lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng. Do đó không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo để thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo cũng như đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp và có căn cứ.

[4] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tạm giữ 01 xe mô tô biển số 11B1-488.74, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX FI; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 11001689 mang tên Bùi Văn L; 01 giấy phép lái xe số: [...], hạng A1, mang tên Vừ Văn H; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số [...]/EXMBB.10.

Tạm giữ của ông Bùi Văn T và ông Bùi Văn T1: 01 xe ô tô biển số 29Y-9150; nhãn hiệu ISUZU, 01 đăng ký xe ô tô số 0052254; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DB 1246525; 01 giấy phép lái xe số: [...] hạng C, mang tên Bùi Văn T; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số: BBOto 24 0000466. Ngày 02/10/2024 đã trả lại xe ô tô và những giấy tờ trên cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Bùi Văn T và ông Bùi Văn T1.

Đối với 01 xe mô tô biển số 11B1-488.74, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX FI đang bị tạm giữ; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 11001689 mang tên Bùi Văn L; 01 Giấy phép lái xe số [...], hạng A1, mang tên Vừ Văn H, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số [...]/EXMBB.10. đang được lưu theo hồ sơ vụ án. Xét thấy chiếc xe này là tài sản của bị cáo, việc bị cáo phạm tội không thuộc trường hợp phải tước Giấy phép lái xe hoặc tạm giữ Giấy phép lái xe nên trả lại xe và các giấy tờ nêu trên cho bị cáo.

[5] Về phần trách nhiệm dân sự: Đại diện của gia đình bị hại đã nhận tiền bồi thường, không có yêu cầu, đề nghị gì thêm về dân sự; ông Bùi Văn T, là người điều khiển xe ô tô, biển số 29Y-9150 và chủ xe là ông Bùi Văn T1, bố đẻ của ông T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét về phần trách nhiệm dân sự.

[6] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí, do đó miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Vừ Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Vừ Văn H 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/02/2025).

Giao bị cáo Vừ Văn H cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Cao Bằng, nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”

(Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, 92 của Luật thi hành án hình sự).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo Vừ Văn H 01 xe mô tô biển số: 11B1-488.74, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX FI; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 11001689 mang tên Bùi Văn L; 01 giấy phép lái xe số [...], hạng A1, mang tên Vừ Văn H; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số [...]/EXMBB.10.

(Tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang với Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, lập ngày 20/01/2025. Đối với Giấy phép lái xe và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự đang lưu theo hồ sơ vụ án, khi bản án có hiệu lực pháp luật Toà án nhân dân huyện Hàm Yên sẽ chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên để thi hành án).

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vừ Văn H.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại, vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc nhận được bản án theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND h.Hàm Yên;
  • - Công an h.Hàm Yên;
  • - Chi cục THADS h.Hàm Yên;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - UBND xã Mông Ân - Bảo Lâm - Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Đức Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vừ Văn Hải phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger