Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/DS-PT

Ngày: 18 - 02 - 2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga – Bà Nguyễn Thị Hải Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án dân sự thẩm thụ lý số: 122/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 12/2025/QĐXXPT-DS ngày 03 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1949. Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; vắng mặt
  2. Đại diện theo ủy quyền của bà T: Ông Hồ Sỹ H, sinh năm 1982. Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; Có mặt

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1964. Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; Có mặt
  4. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • + Bà Lê Thị T1, sinh năm 1970. Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; vắng mặt
    • Đại diện theo ủy quyền của bà T1: Ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1964. Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; có mặt

    • + Ông Hồ Sỹ H, sinh năm 1982. Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; có mặt
    • + Bà Hồ Thị L, sinh năm 1973. Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; vắng mặt

2

  • + Ông Hồ Sỹ C, sinh năm 1986. Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; Có mặt
  • + Ông Hồ Sỹ M, sinh năm 1989. Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; Có mặt
  • + Bà Hồ Thị H1, sinh năm 1978. Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; vắng mặt
  • + Bà Hồ Thị P, sinh năm 1976. Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; vắng mặt
  • Đại diện theo ủy quyền của bà L, ông C, ông M, ông H1, bà P: Ông Hồ Sỹ H, sinh năm 1982. Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; có mặt

  • + Bà Hồ Thị N, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số E, đường H, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt

Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn Á.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và lời khai của đại diện theo uỷ quyền của bà T là ông Hồ Sỹ H trình bày:

Vào khoảng năm 1978 ông Hồ Sỹ Đ, bà Nguyễn Thị T sau khi kết hôn đã khai hoang 01 thửa đất tại thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Sau khi khai hoang ông Đ, bà T đã đến làm nhà và sinh sống trên mảnh đất này từ đó đến nay. Năm 1997 thửa đất được UBND huyện A cấp GCNQSDĐ đứng tên ông Hồ Sỹ Đ. Thửa đất có số thửa là 284, tờ bản đồ 07, diện tích 2.056 m2 (Nay là thửa số 25, tờ bản đồ 49, có diện tích 1.529,8 m2, trong đó đã hiến cho giáo họ Chính Yên 122,2 m2 vào năm 2006 nhưng chưa làm thủ tục chỉnh lý biến động trên GCNQSDĐ). Năm 2009 ông Hồ Sỹ Đ chết. Vào khoảng năm 2017 – 2018 gia đình ông Á đã được cấp đổi GCNQSDĐ đối với thửa đất của ông Á. Trước khi làm thủ tục cấp đổi thì cơ quan đo đạc có về đo tại thực địa, xác định ranh giới các hộ liền kề, đại diện gia đình là bà Nguyễn Thị T có chứng kiến và ký giáp ranh đối với thửa đất giữa hai bên. Một thời gian sau ông Á tiến hành xây dựng ngôi nhà mới, thời điểm đó do bà Nguyễn Thị T bị bệnh phải đi điều trị nên gia đình chỉ lo chăm sóc cho bà T, con cái đều đi làm ăn xa nên gia đình ông Á đã xây lấn sang một phần diện tích thửa đất của gia đình. Quá trình giải quyết tranh chấp đã xác định được phần diện tích hiện đang tranh chấp là 186,7 m2 (Trong đó ngôi nhà chính của ông Á đã xây lấn sang 12 m2, ngôi nhà bếp lấn 28,3 m2, còn lại là đất trống). Sau đó gia đình có làm đơn lên thôn, xóm và các cấp chính quyền để giải quyết, tuy nhiên gia đình ông Á vẫn không chịu trả lại đất, ông Á cho rằng phần diện tích đất nói trên là của gia đình ông Á, đã được chính quyền cấp GCNQSDĐ cho ông Á. Nay bà Nguyễn Thị T khởi kiện để yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết buộc gia đình ông Nguyễn Văn Á phải trả lại cho gia đình bà T phần đất đã lấn chiếm 186,7 m2 nằm trong thửa đất số 284, tờ bản đồ 07 (Nay là thửa số 25, tờ bản đồ 49) tại thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An.

3

Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn Á trình bày:

Vợ chồng ông Nguyễn Văn Á và bà Lê Thị Tuyết kết H2 vào năm 1990. Do có nhu cầu ra ở riêng nên vào năm 1993 vợ chồng ông đã mua 01 thửa đất ở của gia đình ông T2, bà C1 (Thời điểm đó là giáo viên trường Tiểu học T3) với giá 700.000 đồng (Ông T2, bà C1 chuyển đến nơi khác sống nên chuyển nhượng lại bằng giấy viết tay). Sau khi mua đất vợ chồng ông đã làm nhà và sinh sống trên thửa đất từ đó đến nay. Vào năm 1997 thửa đất được cấp GCNQSDĐ đứng tên ông Nguyễn Văn Á (Thửa đất số 247, tờ bản đồ 07, diện tích 1.892 m2). Vào năm 2018 được cấp đổi GCNQSDĐ đứng tên ông Nguyễn Văn Á, bà Lê Thị T1 (Thửa số 18, tờ bản đồ 49, diện tích 1.740,6 m2). Khi gia đình ông Á làm thủ tục cấp đổi GCNQSDĐ thì bà T có chứng kiến và ký giáp ranh. Đến năm 2022 sau khi vợ chồng ông xây 01 ngôi nhà mới hai tầng thì các con cái của bà Nguyễn Thị T cho rằng gia đình ông đã xây dựng lấn chiếm sang thửa đất của gia đình bà T nên từ đó hai bên xẩy ra xích mích, các con bà T liên tục gây sự và bắt gia đình ông phải trả lại đất. Sau đó sự việc được thôn và xã hoà giải nhiều lần vẫn không thành.

Nay bà Nguyễn Thị T khởi kiện ông để yêu cầu Tòa án giải quyết buộc gia đình ông phải trả lại cho gia đình bà Nguyễn Thị T phần đất mà bà T cho rằng đã lấn chiếm 186,7 m2 nằm trong thửa đất số 284, tờ bản đồ 07 (Nay là thửa số 25, tờ bản đồ 49) tại thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An thì ông hoàn toàn không đồng ý, vì phần diện tích đất nói trên nằm trong phạm vi thửa đất của gia đình ông.

Quá trình giải quyết vụ án, thông qua người đại diện theo uỷ quyền và trực tiếp cung cấp lời khai tại Toà án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía nguyên đơn, gồm các ông, bà Hồ Sỹ H, Hồ Thị L, Hồ Thị P, Hồ Sỹ C, Hồ Sỹ M, Hồ Thị H1, Hồ Thị Ngọc thống N1 trình bày:

Các ông, bà gồm: Hồ Sỹ H, Hồ Thị L, Hồ Thị P, Hồ Sỹ C, Hồ Sỹ M, Hồ Thị H1, Hồ Thị N đều là con đẻ của bà Nguyễn Thị T, ông Hồ Sỹ Đ1. Các ông, bà hoàn toàn thống nhất với nguồn gốc, hiện trạng, quá trình sử dụng đất đối với thửa đất số 284, tờ bản đồ 07, diện tích 2.056 m2 (Nay là thửa số 25, tờ bản đồ 49, có diện tích 1.529,8 m2) tại thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An theo trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T. Quá trình sử dụng đất gia đình ông Nguyễn Văn Á đã lấn chiếm sang thửa đất của gia đình 186,7 m2. Nay bà Nguyễn Thị T khởi kiện để yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết buộc gia đình ông Nguyễn Văn Á phải trả lại cho bà T phần đất đã lấn chiếm 186,7 m2 nằm trong thửa đất số 284, tờ bản đồ 07 tại thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An thì các ông, bà Hồ Sỹ H, Hồ Thị L, Hồ Thị P, Hồ Sỹ C, Hồ Sỹ M, Hồ Thị H1, Hồ Thị N hoàn toàn thống nhất nội dung khởi kiện của bà T, đề nghị Toà án giải

4

quyết buộc ông Á phải trả lại phần đất đã lấn chiếm cho gia đình, không có ý kiến, yêu cầu gì thêm.

Qua công tác xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản xác định được:

Thửa đất đang tranh chấp là thửa số 284, tờ bản đồ 07 (Nay là thửa số 25, tờ bản đồ 49) tại thôn A, xã T của bà Nguyễn Thị T có vị trí tiếp giáp như sau:

  • - Phía bắc tiếp giáp với thửa đất số 18, tờ bản đồ 49 của ông Nguyễn Văn Á.
  • - Phía đông tiếp giáp với đường liên thôn.
  • - Phía nam tiếp giáp với đường liên thôn dẫn lên nhà thờ giáo xứ C3.
  • - Phía tây tiếp giáp với thửa đất số 20, tờ bản đồ 49 (Giáo xứ C).

Thửa đất có diện tích 1.529,8 m2, trong đó gia đình bà T đã hiến cho giáo xứ C3 122,2 m2 nhưng chưa được chỉnh lý tại GCNQSDĐ cấp cho bà T.

Thửa đất liên quan đến phạm vi tranh chấp là thửa số 247, tờ bản đồ 07 (Nay là thửa số 18, tờ bản đồ 49) tại thôn A, xã T của ông Nguyễn Văn Á có vị trí tiếp giáp như sau:

  • - Phía bắc tiếp giáp với thửa đất số 12, tờ bản đồ 49
  • - Phía đông tiếp giáp với đường liên thôn
  • - Phía nam tiếp giáp với thửa số 25, tờ bản đồ 49 của bà Nguyễn Thị T.
  • - Phía tây tiếp giáp với thửa đất số 20, tờ bản đồ 49 (Giáo xứ chính Y)

Thửa đất có diện tích 1.740,6 m2.

Phần diện tích đất hiện nay đang tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Á có vị trí tiếp giáp và kích thước như sau:

  • - Phía bắc tiếp giáp phẩn diện tích ông Nguyễn Văn Á đang sử dụng dài 39,75 mét.
  • - Phía đông tiếp giáp với đường liên thôn.
  • - Phía nam tiếp giáp với phần đất của gia đình bà T đang sử dụng, dài 36,93 mét.
  • - Phía tây tiếp giáp với thửa đất số 20, tờ bản đồ 49 (Giáo xứ chính Y) dài 10,81 mét.

Phần đất đang tranh chấp có diện tích 186,7 m2 và nằm trong thửa đất số 25, tờ bản đồ 49 của bà Nguyễn Thị T có giá theo giá trị trường là 153.800.000 đồng.

Trên phần diện tích đất đang tranh chấp hiện có các công trình và tài sản như sau: Các công trình do ông Nguyễn Văn Á xây dựng: Một phần diện tích ngôi nhà chính hai tầng (12 m2) và một phần diện tích ngôi nhà bếp xây bằng gạch táp lô, lợp tôn (28,3 m2); Các tài sản khác gồm có: 01 cây nhãn, 02 cây đu đủ.

Với nội dung trên bản án dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

5

Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 235 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 203 Luật đất đai 2013; Điều 166, 175, 176 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 12, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.

Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn Á, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T1 phải trả lại cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phần diện tích đất đã lấn chiếm 186,7 m2 nằm trong thửa đất số 25, tờ bản đồ 49 tại thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An, trong đó:

  • * Phần ông Nguyễn Văn Á, bà Lê Thị T1 phải trả lại cho bà Nguyễn Thị T bằng hiện vật là quyền sử dụng đất với diện tích 59,3 m2, là loại đất cây lâu năm, có giá 29.650.000 đồng. Phần đất có vị trí tiếp giáp như sau:
    • - Phía bắc tiếp giáp phần diện tích đất ông Á đang sử dụng, dài 36,63 mét;
    • - Phía đông tiếp giáp đường liên thôn.
    • - Phía nam tiếp giáp phần đất bà T đang sử dụng dài 36,93 mét.
    • - Phia tây tiếp giáp thửa đất số 20 tờ bản đồ 49 dài 3,34 mét.

Ông Nguyễn Văn Á, bà Lê Thị T1 phải giao lại cho bà Nguyễn Thị T các tài sản trên đất gồm: 01 cây nhãn có giá 400.000 đồng; 02 cây đu đủ có giá 60.000 đồng.

  • * Phần diện tích đất ông Nguyễn Văn Á, bà Lê Thị T1 trả lại cho bà Nguyễn Thị T bằng giá trị (diện tích 127,4 m2, trong đó 40,3 m2 đất ở, 87,1 m2 đất cây lâu năm), tương ứng với số tiền 124.150.000 đồng (Một trăm hai mươi tư triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng). Phần diện tích đất trả bằng giá trị có vị tiếp giáp như sau:
    • - Phía bắc tiếp giáp thửa đất số 18 tờ bản đồ 49 do ông Nguyễn Văn Á đang sử dụng, dài 39,75 mét.
    • - Phía đông tiếp giáp với đường liên thôn.
    • - Phía nam tiếp giáp với phần đất của gia đình bà T đang sử dụng, dài 36,63 mét.
    • - Phía tây tiếp giáp với thửa đất số 20, tờ bản đồ 49 (Giáo xứ chính Y) dài 7,47 mét.

Tài sản trên đất gồm có: Một phần diện tích ngôi nhà chính (12 m2) và một phần diện tích ngôi nhà bếp (28,3 m2) của ông Nguyễn Văn Á, bà Lê Thị Tuyết .

Giao cho bà Nguyễn Thị T phần diện tích đất (59,3 m2), các tài sản trên đất gồm 02 cây đu đủ có giá 60.000 đồng; 02 cây nhãn có giá 400.000 đồng do ông Nguyễn Văn Á, bà Lê Thị T1 trả lại, và số tiền 124.150.000 đồng mà ông Á, bà T1 thanh toán bằng giá trị.

Bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm giao lại cho ông Nguyễn Văn Á, bà Lê Thị Tuyết P1 diện tích đất (127,4 m2) và các tài sản trên đất gồm một phần diện

6

tích ngôi nhà chính (12 m2) và một phần diện tích ngôi nhà bếp (28,3 m2) mà ông Á, bà T1 đã thanh toán cho bà T bằng giá trị.

Ông Nguyễn Văn Á, bà Lê Thị T1 được quyền nhận lại phần diện tích đất (127,4 m2) và tài sản trên đất gồm một phần diện tích ngôi nhà chính (12 m2) và một phần diện tích ngôi nhà bếp (28,3 m2) do bà Nguyễn Thị T giao lại.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, bị đơn ông Nguyễn Văn Á, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Tuyết căn C2 vào quyết định của bản án có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chỉnh lý biến động đất đai theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Ngày 07/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn nhận được đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn Á. Ông Nguyễn Văn Á kháng cáo yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về việc đòi lại phần diện tích đất 186,7m2 nằm trong thửa đất số 25, tờ bản đồ số 49 tại thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An mà bà T cho rằng gia đình ông Á đã lấn chiếm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán được phân công đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục phiên tòa.
  • - Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 294 và Điều 196 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quyền tranh tụng của các đương sự được bảo đảm.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Á, giữ nguyên bản án sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Á làm trong thời hạn luật định, hình thức, nội dung đơn hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả quyền sử dụng đất giáp ranh với bị đơn xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản

7

liền kề là phù hợp theo quy định tại Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015và khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Vào năm 1978 ông Hồ Sỹ Đ, bà Nguyễn Thị T đã khai hoang 01 thửa đất tại thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Sau đó vợ chồng ông Đ, bà T đã đến làm nhà và sinh sống trên mảnh đất này từ đó đến nay. Năm 1997 thửa đất được Ủy ban nhân dân huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Hồ Sỹ Đ đối với thửa đất số 284, tờ bản đồ 07, diện tích 2.056 m2 (Nay là thửa số 25, tờ bản đồ 49, có diện tích 1.529,8 m2).

Đối với thửa đất của gia đình ông Nguyễn Văn Á, vợ chồng ông đã mua của gia đình ông T2, bà C1 vào năm 1993. Sau khi mua đất gia đình ông đã xây dựng nhà cửa và sinh sống ổn định trên thửa đất cho đến nay. Năm 1997 thửa đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn Á, và đến năm 2018 được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn Á, bà Lê Thị Tuyết .

Đối chiếu về diện tích các thửa đất qua các thời kỳ thấy rằng: Theo bản đồ 299, tờ bản đồ 07 xã T lập năm 1997 thì thửa đất số 284 của bà Nguyễn Thị T có diện tích 2.056 m2, thửa đất số 247 của ông Nguyễn Văn Á có diện tích 1.812 m2; Theo bản đồ địa chính chính quy lập năm 2014, tờ bản đồ số 49 xã T thì thửa đất số 25 (cũ là thửa 284) của bà T có diện tích 1.529,8 m2, thửa đất số 18 (cũ là thửa 247) của ông Á có diện tích 1.740,6 m2.

[2.2] Thửa đất nguyên đơn và bị đơn sử dụng, khi lập bản đồ đo đạc địa chính số năm 2014, các chủ thửa đất của nguyên đơn và bị đơn đã ký ranh giới cho nhau và không có ý kiến khiếu nại gì. Tại Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất lập ngày 25/7/2013 đối với thửa đất số 25, tờ bản đồ 49 thì chủ sử dụng đất ông Nguyễn Văn Á và các hộ liền kề trong đó có bà Nguyễn Thị T đã thống nhất ký giáp ranh, xác định ranh giới thửa đất của ông Á và các hộ liền kề. Ông Á hoàn toàn thống nhất về diện tích, nguồn gốc sử dụng, bản giải trình về việc tăng giảm diện tích thửa đất, tại thời điểm cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2018 xác định thửa đất không có tranh chấp. Sau khi Ủy ban nhân dân huyện A cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Á không có ý kiến, khiếu nại gì.

Tại công văn số 1760/UBND-TNMT, ngày 31/7/2024 của Ủy ban nhân dân huyện A “V/v phúc đáp công văn số 350/CV-TA, ngày 08/7/2024 của TAND huyện Anh Sơn” thể hiện: “...Thành phần hồ sơ, tính pháp lý của việc cấp GCNQSDĐ số seri CO 344315, số vào sổ CH 02937, cấp ngày 13/11/2018 đối với thửa đất số 18, tờ bản đồ 49 đúng quy định tại khoản 1 Điều 76 Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ và Điều 10 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT,

8

ngày 19/5/2014 của Bộ T4..”. Như vậy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Văn Á, bà Lê Thị T1 là hoàn toàn hợp pháp.

Theo kết quả đo đạc, thẩm định tại chỗ do Tòa án huyện Anh Sơn thực hiện ngày 6/6/2024 thể hiện hiện trạng sử dụng của hai hộ gia đình có lấn nhau. Cụ thể: toàn bộ phần diện tích đất đang tranh chấp 186,7 m2 đều nằm trong phạm vi thửa đất số 25, tờ bản đồ 49 tại thôn A, xã T được quy chủ cho bà Nguyễn Thị T.

Theo quy định khoản 1 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 “Thửa đất là phần diện tích đất được giới hạn bởi ranh giới xác định trên thực địa hoặc mô tả trên hồ sơ. Ranh giới sử dụng đất được xác định bằng mốc giới cụ thể do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất trên thực địa, được mô tả trong hồ sơ điạ chính".

Như vậy, Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn Á không cung cấp được các tài liệu chứng cứ để chứng minh phần diện tích đang tranh chấp (186,7 m2) nằm trong phạm vi thửa đất của gia đình ông được nhà nước giao và sử dụng hợp pháp. Theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Do đó bản án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T là có căn cứ.

Do các công trình ông Nguyễn Văn Á xây dựng trên phần diện tích lấn chiếm là các công trình kiên cố việc tháo dỡ, di dời sẽ làm mất đi giá trị của tổng thể của cả căn nhà, mặt khác quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn đồng ý phương án buộc gia đình ông Á phải trả lại phần diện tích đã xây dựng công trình theo giá trị, phần đất trống còn lại phải trả cho bà T bằng hiện vật. Toàn bộ phần diện tích lấn chiếm nằm trong thửa đất số 25, tờ bản đồ 49 tại thôn A, xã T được xác định hạn mức đất ở là 300 m2, phần diện tích còn lại là đất cây lâu năm, do đó xác định phần diện tích lấn chiếm ông Á, bà T1 xây dựng các công trình kiên cố được xác định theo giá đất ở, phần diện tích đất trống còn lại chưa xây dựng công trình được xác định theo giá đất cây lâu năm.

Từ những phân tích trên thấy rằng việc Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T là đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Á, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa là phù hợp.

[3] Về án phí phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Văn Á là người cao tuổi và là người khuyết tật nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

9

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308, Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Á, giữ nguyên phần Quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.
  2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho bị đơn ông Nguyễn Văn Á.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Tòa án nhân dân huyện A;
  • - Chi cục THADS huyện A;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/DS-PT ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 16/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất Nguyễn Thị T-Nguyễn Văn Á
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger