TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18/02/2025 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Hiền;
Bà Hoàng Thị Len.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Trung Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 159/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lương Thị D, sinh năm 2001.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ hiện nay: Bản Mựn, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Số định danh cá nhân: 040301014359.
Bị đơn: Anh Trần Thành N, sinh năm 1996.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ hiện nay: Nhật Bản (không rõ địa chỉ cụ thể).
Số định danh cá nhân: 034096002267.
(Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt, anh N vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/10/2024 và Bản tự khai của nguyên đơn chị Lương Thị D yêu cầu giải quyết về quan hệ hôn nhân với anh Trần Thành N và trình bày như sau:
Chị và anh N tự nguyện tìm hiểu và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình vào ngày 28/10/2022 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 52/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống. Tháng 06/2024, anh N đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, từ đó hai vợ chồng không thường xuyên liên lạc, hỏi han, quan tâm nhau và sống ly thân từ đó đến nay. Xác định tình cảm vợ chồng đã hết, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.
Về con chung: Chị và anh N không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh N không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị.
* Đối với bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án cho anh Trần Thành N thông qua gia đình anh N, nhưng anh N không tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Ông Trần Thành T, sinh năm 1967, địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình là bố đẻ của anh Trần Thành N trình bày:
Về điều kiện kết hôn giữa anh N và chị D như chị D đã trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh N, chị D chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, không cùng chung quan điểm sống. Tháng 06/2024, anh N đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản để ổn định cuộc sống nên vợ chồng anh N và chị D đã sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm hỏi han đến ai. Vì vậy đề nghị Toà án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết yêu cầu ly hôn của chị D. Anh N và chị D không có con chung, không có tài sản chung.
Anh N đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, ông không biết địa chỉ chính xác của anh N ở Nhật Bản nhưng anh N vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại và mạng xã hội. Ông đã thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh N bao gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; giấy triệu tập, ... anh N nói rằng nhất trí ly hôn chị D. Ông đề nghị Tòa án tiếp tục gửi các văn bản trong quá trình giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình giữa chị D và anh N cho ông để ông thông báo lại cho anh N.
* Công văn số 957/PA08 ngày 19/11/2024 của Phòng Q Công an tỉnh T cung cấp: Anh Trần Thành N xuất cảnh lần gần nhất ngày 09/6/2024, chưa có thông tin nhập cảnh vào Việt Nam.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không tham gia tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Lương Thị D ly hôn anh Trần Thành N. Về quan hệ con chung: Không đặt ra giải quyết. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Chị D phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án chị Lương Thị D xin ly hôn anh Trần Thành N theo thủ tục chung, chị D đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn như cung cấp bản tự khai, cung cấp các chứng cứ chứng minh và có đơn đề nghị Toà án không hòa giải, đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn - anh Trần Thành N đã được Tòa án thông báo (thông qua thân nhân) các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên toà; Giấy triệu tập, ... của Tòa án nhưng anh N không có mặt theo yêu cầu của Tòa án, không cung cấp bản tự khai và địa chỉ cụ thể tại Nhật Bản của anh cho Tòa án. Như vậy, anh N đã cố tình giấu địa chỉ, từ chối trình bày ý kiến và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho thân nhân của anh N và đã niêm yết công khai các văn bản đó tại chính quyền địa phương nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của anh N ở Việt Nam để đảm bảo quyền tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án cho anh T1. Tuy nhiên, anh N vẫn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt chị Lương Thị D và anh Trần Thành N.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:
[2.1] Quan hệ hôn nhân của Lương Thị D và anh Trần Thành N được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình vào ngày 28/10/2022 là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chị D, anh N chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống nên đã phải sống ly thân từ năm 2024 đến nay. Sau đó anh N đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, giữa vợ chồng không còn sự quan tâm, hỏi han đến nhau. Điều đó thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị D mong muốn được ly hôn anh N. Thông qua thân nhân, anh N đã thể hiện quan điểm nhất trí ly hôn nhưng do anh N đang ở Nhật Bản không thể đến Tòa án để tham gia hòa giải và thỏa thuận ly hôn, vì vậy Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị D, xử cho chị D ly hôn anh N là phù hợp với quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự; Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về quan hệ con chung: Vợ chồng anh N, chị D không có con chung. Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung. Tòa án đã thông tin qua ông T (là bố đẻ anh N) hướng dẫn anh N trình bày quan điểm của mình về yêu cầu khởi kiện của chị D nhưng anh N không có lời khai, không có yêu cầu về tài sản chung của vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về tài sản của anh N, chị D trong vụ án này. Các đương sự có thể khởi kiện vụ án phân chia tài sản chung khi cần thiết.
[2.4] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị D phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 điểm b Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Điều 271; Điều 273; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lương Thị D được ly hôn anh Trần Thành N.
- Về quan hệ con chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Lương Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị D đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000341 ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Lương Thị D có quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án; anh Trần Thành N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Hoàn |
Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Thị D - Trần Thành N
