|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/HNGĐ - ST
Ngày 17 tháng 2 năm 2025
V/v: "Tranh chấp hôn nhân và gia đình".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- * Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Ánh Dương
- * Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tư.
- Bà Nguyễn Thị Vượng.
- * Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hải Đăng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- * Đại diện VKSND thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Anh T - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 2 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 (số thụ lý cũ của TAND huyện Yên Dũng: 185/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024) về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/1/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23/1/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 2001 (Có mặt)
- - Bị đơn: Anh Đào Thanh T1, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện Y (nay là phường N, thành phố B), tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở tạm: Số nhà A, phố M, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
Cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện Y (nay là phường N, thành phố B), tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 07/10/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Minh H trình bày:
Chị và anh Đào Thanh Thùy kết hôn ngày 13/7/2020, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện Y (nay là phường N, thành phố B), tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn vợ chồng chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, chị và anh T1 về chung sống với nhau tại gia đình anh T1. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T1 thường xuyên rượu chè, cờ bạc, không về nhà và không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng hay đánh, cãi, chửi nhau. Vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 05/2022 đến nay. Nay chị xác định mẫu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn anh Đào Thanh T1.
Về con chung: Chị và anh T1 có 01 con chung là Đào Nguyễn Khánh A, sinh ngày 27/6/2020 đang do chị nuôi dưỡng. Ly hôn, chị đề nghị được tiếp tục nuôi 01 con chung là Đào Nguyễn Khánh A và chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị làm công nhân với thu nhập là 15.000.000 đồng/tháng. Chị có nơi ở ổn định và nuôi 01 con ăn học từ khi ly thân đến nay. Chị cam kết sẽ trực tiếp nuôi con đảm bảo ổn định và phát triển. Anh Đào Thanh T1 là lao động tự do, không có thu nhập ổn định.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp, ruộng canh tác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Anh Đào Thanh T1 đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Đào Thanh T1 không có mặt để làm việc với Tòa án về những vấn đề liên quan vụ án mà anh Đào Thanh T1 là bị đơn. Tại phiên tòa, anh Đào Thanh T1 vắng mặt.
* Tại biên bản xác minh ngày 21/11/2024, ông Trần Văn K – Tổ trưởng tổ dân phố Đ, thị trấn N cho biết: Anh Đào Thanh T1 là công dân hiện cư trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện Y (nay là phường N, thành phố B), tỉnh Bắc Giang. Anh T1 kết hôn với chị Nguyễn Thị Minh H năm 2020. Sau khi kết hôn chị H về gia đình anh T1 làm sinh sống. Chị H và anh T1 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Hiện nay anh Đào Thanh T1 đang sinh sống tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện Y (nay là phường N, thành phố B), tỉnh Bắc Giang.
* Tại Biên bản xác minh ngày 21/11/2024, ông Đào Thanh N – Là bố đẻ anh Đào Thanh T1 cho biết: Chị Nguyễn Thị Minh H và anh Đào Thanh T1 kết hôn năm 2020. Sau khi kết hôn thì anh T1, chị H sống tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện Y (nay là phường N, thành phố B), tỉnh Bắc Giang. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Đến Tháng 9/2023, chị H đem con bỏ về bố mẹ đẻ sinh sống. Tháng 6/2024 thì sống ly thân nay.
Toà án đã mở phiên hoà giải để hoà giải về quan hệ vợ chồng, con chung, tài sản, công nợ, án phí nhưng không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên ý kiến về việc giải quyết vụ án, không có chứng cứ gì khác giao nộp cho Toà án và cũng không có yêu cầu hoặc đề nghị gì khác.
Sau phần tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của BLTTDS; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Minh H được ly hôn anh Đào Thanh T1.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Minh H được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đào Nguyễn Khánh A, sinh ngày 27/6/2020.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do chị Nguyễn Thị Minh H và anh Đào Thanh T1 không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, ruộng canh tác: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Minh H chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Anh Đào Thanh T1 không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập, niêm yết hợp lệ lần 2 đối với anh Đào Thanh T1 nhưng vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt đương sự theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS.
Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập, Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số: 125/2024/QĐ-CCTLCC ngày 06/11/2024 về việc yêu cầu anh T1 cung cấp toàn bộ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến mâu thuẫn vợ chồng, con chung, tài sản chung, công nợ, liên quan đến tranh chấp hôn nhân và gia đình, bản tự khai trình bày quan điểm về: quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, công nợ và liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự trong vụ án cho anh Đào Thanh T1 nhưng anh Đào Thanh Thuỳ không có mặt để làm việc với Tòa án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên anh T1 chịu hậu quả pháp lý.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị Nguyễn Thị Minh H và anh Đào Thanh T1 xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện Y (nay là phường N, thành phố B), tỉnh Bắc Giang, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng và được coi là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy, chị H, anh T1 có thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh cãi, chửi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mặc dù bản thân và gia đình đã tích cực hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không được. Vì vậy, xét mâu thuẫn giữa chị H, anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu cho chị Nguyễn Thị Minh H được ly hôn anh Đào Thanh T1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2] Về con chung: Vợ chồng chị H, anh T1 có có 01 con chung là cháu Đào Nguyễn Khánh A, sinh ngày 27/6/2020. Khi giải quyết vụ án về ly hôn này cần xem xét đến quyền lợi của các bên đương sự nhất là quyền lợi mọi mặt của trẻ em.
Xét điều kiện nuôi con thấy: Từ lúc ly thân tháng 05/2022 đến nay chị H là người đang trực tiếp chu cấp ăn, học, nuôi dưỡng con chung Đào Nguyễn Khánh A. Hiện cháu A đang ăn học, phát triển bình thường, ổn định và giữa chị H, anh T1 không có ý kiến tranh chấp về nuôi con chung. Chị H đang làm công nhân, có thu nhập, nơi ở ổn định, được gia đình hỗ trợ là đảm bảo cuộc sống và đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu A và sự phát triển tâm sinh lý, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc. Nên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng của chị H. Cần giữ nguyên hiện trạng nuôi con chung của chị H như hiện nay. Giao cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc 01 con chung là cháu Đào Nguyễn Khánh A, sinh ngày 27/6/2020 là đảm bảo sự ổn định, phát triển về mọi mặt của cháu A và phù hợp Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Anh Đào Thanh T1 không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
[3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do chị Nguyễn Thị Minh H và anh Đào Thanh T1 không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị Nguyễn Thị Minh H và anh Đào Thanh T1 không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Minh H chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Minh H được ly hôn anh Đào Thanh T1.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Minh H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 con chung là Đào Nguyễn Khánh A, sinh ngày 27/6/2020.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do chị Nguyễn Thị Minh H và anh Đào Thanh T1 không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, ruộng canh tác: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: 0005349 ngày 10/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng(nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang. Chị Nguyễn Thị Minh H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Đào Thanh T1 không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ánh Dương |
Bản án số 16/2025/HNGĐ - ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Minh H xin ly hôn anh Đào Thanh T
