|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HS-PT Ngày: 17-02-2025 |
|
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bích Văn Nhiên.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh và Bà Phạm Phong Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dụng Thị Mỹ Ái, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Toàn, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 và 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 109/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo Trương Minh D, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024, của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
Bị cáo có kháng cáo: Trương Minh D, sinh năm 1985, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố D, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nơi tạm trú: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Thợ hớt tóc; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Công Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Minh T và bà Lương Thị X; có Vợ: Đặng Ngọc Thu H (Không đăng ký kết hôn) và 01 con; Tiền án, tiền sự và nhân thân: Không; Bị cáo tại ngoại; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Xuất phát từ mâu thuẫn trong việc phân chia đất đai giữa bị cáo và ông Nguyễn Xuân C là cha dượng của bị cáo. Khoảng 22 giờ ngày 24/3/2024, sau khi đi nhậu về, Trương Minh D đứng trước nhà chửi sang nhà ông C trong khi ông C đang ngủ. Lúc này, trước nhà ông C có Nguyễn Xuân H1 là con cùng mẹ khác cha với bị cáo và Nguyễn Hồng P là em vợ H1, đang ngồi nhậu trước nhà ông C. Nghe bị cáo chửi cha mình nên H1 bực tức cầm 01 đoạn ống bằng kim loại đến trước cổng nhà bị cáo thọc vào nhưng không trúng ai. Sau đó, giữa bị cáo và H1 xảy ra cãi vả thách đố đánh nhau. Nghe ồn ào, ông C từ trong nhà bước ra cầm cục gạch bị bể một nửa ném vào nhà bị cáo thì trúng vào đầu cháu Đặng Trương Tuấn K là con ruột của bị cáo D, gây thương tích. Thấy vậy, bị cáo la lớn rồi đi vào nhà bếp lấy 01 con dao dài 29cm chạy ra chém ông C nhưng ông C tránh được và bỏ chạy vào trong nhà. Lúc này, H1 cầm cây sắt dài khoảng 1,2m chạy ra đánh nhau với bị cáo. Quá trình đánh nhau, H1 bị bị cáo chém một nhát trúng vào cánh tay phải gây thương tích, thấy H1 bị chém P xông đến ôm vật bị cáo thì bị bị cáo dùng dao chém trúng vào mu bàn tay phải, vào đầu và vai gây thương tích. Sau khi P đè được bị cáo thì H1 cũng xông tới đè lên người bị cáo xuống đất để tước lấy con dao; bà Lương Thị X là mẹ của bị cáo đến giật lấy con dao trên tay của bị cáo ném đi chỗ khác; ông Nguyễn Xuân C đến dùng chân mang dép đạp nhiều cái vào lưng D làm sây sát. Bị cáo bị thương ở tay trái do giữ con dao khi giằng co. H1 bị mất máu nhiều bị choáng, được mọi người đưa đi chữa trị vết thương tại Bệnh viện Đ cùng P và cháu K. Do vẫn còn bực tức nên bị cáo tiếp tục lấy 01 con dao và 01 cây kéo chạy ra thấy ông C đang đứng trong sân nhà H1 nên bị cáo ném dao và kéo vào người ông C nhưng không trúng, nên bị cáo về nhà.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 321/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 05/4/2024 của Trung tâm giám định Y khoa Pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Trương Minh D: Vết thương mặt bên đốt xa ngón 2 bàn tay trái đang được điều trị hiện dài 2,5cm còn 03 mũi chỉ. Vết thương sây sát da vùng lưng trái kích thước (20 x 17)cm. 03 vết sây sát da vùng lưng trái kích thước vết 1 (27 x 9)cm; Vết 2 (6 x 1)cm; Vết 3 (1 x 1)cm. Sây sát da vùng lưng phải kích thước (19 x 8)cm. Sây sát da khuỷu tay phải kích thước (1,5 x 1)cm. Sây sát da vai - cánh tay phải kích thước (7 x 3,5)cm. Sây sát da 1/3 dưới mặt ngoài cẳng tay phải kích thước (3 x 2)cm. Sây sát da cổ tay phải kích thước (3 x 2)cm. Sưng nề bầm tím sau tai trái hiện không còn để lại dấu vết, không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Xếp tỷ lệ thương tật 22% (Hai hai phần trăm). Vết thương bàn tay trái do vật sắc gây ra; vết thương sây sát da lưng trái, giữa lưng, vùng lưng phải, khủy tay phải, cẳng tay phải, cổ tay phải do vật tày gây ra. Các vết sây sát lưng trái, giữa lưng, vùng lưng phải có chiều hướng tác động từ sau ra trước; Vết thương bàn tay trái, các vết sây sát khủy tay phải, vai - cánh tay phải, cổ tay phải có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương; với lực tác động nhẹ.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 322/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 05/4/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Nguyễn Hồng P: Vết thương vùng trán - thái dương phải đang được điều trị hiện vết thương dài 5,5cm còn 03 mũi chỉ. Vết thương vùng đỉnh vai phải đang được điều trị hiện vết thương dài 07cm con 02 mũi chỉ. Vết thương mặt mu bàn tay phải đang được điều trị hiện vết thương dài 07cm còn 06 mũi chỉ. Đứt gân duỗi ngón 5 bàn tay phải đang điều trị nên không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Xếp tỷ lệ thương tật 10% (Một không phần trăm). Các vết thương do vật sắc gây ra. Vết thương vùng trán - thái dương phải có chiều hướng tác động từ trước ra sau; Vết thương vùng đỉnh vai phải có chiều hướng tác động từ trên xuống; Vết thương bàn tay phải có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương; với lực tác động nhẹ. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thi xã L đưa đối tượng đến giám định bổ sung khi tổn thương đứt gân duỗi ngón 5 bàn tay phải đã điều trị ổn định.
Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương trên cơ thể người sống số 387/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 22/4/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Nguyễn Hồng P: Vết thương mặt mu bàn tay phải rách bao khớp bàn ngón 5, đứt gân duỗi ngón 5 bàn tay phải đã được phẫu thuật bao khớp và gân duỗi ngón 5 hiện hạn chế duỗi ngón 5 bàn tay phải, để lại sẹo vết mổ trùng vết vết thương dài 7cm còn 06 mũi chỉ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02% (Hai phần trăm).
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Hồng P tại thời điểm giám định bổ sung và tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 322/KLTTCT-TTGĐYKPYBT, ngày 05/4/2024 của Tung tâm Giám định y khoa - Pháp y tỉnh B là 12% (Một hai phần trăm). Các vết thương bàn tay phải do vật sắc gây ra. Vết thương bàn tay phải có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương, với lực tác động nhẹ.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 323/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 05/4/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Đặng Trương Tuấn K là 06% (Sáu phần trăm).
Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương trên cơ thể người sống số 388/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 22/4/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Nguyễn Xuân H1 là 03% (Ba phần trăm).
Ngày 25/3/2024, ông Nguyễn Xuân H1, ông Nguyễn Hồng P, bà Đặng Ngọc Thu H (Mẹ Đặng Trương Tuấn K) có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Ngày 18/5/2024, ông Nguyễn Xuân H1, bà Đặng Ngọc Thu H và Trương Minh D có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Vật chứng: 01 con dao, 01 cục gạch ống, 01 đôi dép da.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024, của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, quyết định:
Căn cứ vào điểm đ khoan 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trương Minh D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Trương Minh D 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lí vật chứng, nộp án phí và thông báo quyền kháng cáo bản án.
Về kháng cáo: Ngày 19/9/2024, bị cáo Trương Minh D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận 1 phần kháng cáo của bị cáo Trương Minh D; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HS-ST ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, giảm cho bị cáo từ 04 đến 06 tháng tù. Vì có tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 1.500.000 đồng và bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- Bị cáo Trương Minh D vẫn giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có nộp đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, với lý do: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 1.500.000 đồng; Hiện nay bị cáo đang nuôi con nhỏ vì vợ bị cáo đã bỏ đi lấy chồng khác,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
Xuất phát từ mâu thuẫn trong việc phân chia đất đai giữa bị cáo và cha dượng là ông Nguyễn Xuân C. Khoảng 22 giờ ngày 24/3/2024, sau khi đi nhậu về, bị cáo đứng trước nhà chửi sang nhà ông C trong khi ông C đang ngủ thì bị ông C dùng cục gạch ném vào nhà trúng vào đầu con trai bị cáo gây thương tích 06%. Do bị kích động tâm lý nên bị cáo dùng dao đuổi chém ông C. Lúc này, Nguyễn Xuân H1 và Nguyễn Hồng P vào can ngăn đè bị cáo xuống đất nhằm tước lấy con dao ra thì bị bị cáo dùng dao chém vào vùng trán, thái dương phải, vùng đỉnh vai phải và vùng mu bàn tay phải của Nguyễn Hồng P gây thương tích cho P là 12%.
Hành vi của bị cáo Trương Minh D đã bị Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, xử phạt 02 (Hai) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ.
[3] Bị cáo Trương Minh D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo với các lí do Tòa án sơ thẩm xử quá nặng, quá nghiêm khắc; sau khi phạm tội bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái mà bị cáo gây ra; lần đầu phạm tội; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính, nuôi con nhỏ, vợ đã bỏ đi không ai chăm sóc con; bị cáo nhiều lần bồi thường nhưng bị hại không chịu nhận. Các lí do mà bị cáo đưa ra, đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có xuất trình đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị hại Nguyễn Hồng P vì bị cáo đã tha thiết xin bồi thường cho bị hại 1.500.000 đồng. Đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và chấp nhận 1 phần kháng cáo của bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như lời đề nghị của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm vì kháng cáo của bị cáo được chấp nhận 1 phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trương Minh D, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi:
Căn cứ vào điểm đ khoan 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trương Minh D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Trương Minh D 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Bị cáo Trương Minh D không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật tính kể từ ngày tuyên án (Ngày 17 tháng 02 năm 2025).
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
|
Phạm Phong Lan Nguyễn Thị Hồng Hạnh Bích Văn N |
Bích Văn Nhiên |
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Bình Thuận;
- - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
- - VKSND thị xã La Gi;
- - TAND thị xã La Gi;
- - Công an thị xã La Gi;
- - Chi cục THADS thị xã La Gi;
- - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
- - Những người tham gia tố tụng;
- - Lưu: Hồ sơ vụ án.
Bản án số 16/2025/HS-PT ngày 17/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 16/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm đ khoan 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Trương Minh Dương phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
