|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc —————————————— |
Bản án số: 16/2025/HS-PT
Ngày 13/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hằng
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Duy Thạch
Bà Vũ Thị Bích Diệp
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 03/2025/TLPT-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Xuân T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 227/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Xuân T, sinh năm 1987 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn G, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết)và bà Nguyễn Thị H; có vợ Vũ Thị T1 (Đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 25/6/2024; bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ngoài ra còn có bị cáo Nguyễn Thị H không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
Bị hại: Anh Chu Văn T2, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn G, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân T: Bà Bùi Thị Thanh H1 và bà Đoàn Thị Mỹ A - Luật sư của Công ty L; địa chỉ: P tầng D số E L, Phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn trong tranh chấp về đất đai chưa giải quyết xong, khoảng 07 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, Chu Văn T2, sinh năm 1982 và Chu Văn H2, sinh năm 1990 đến nhà em gái là Chu Thị D, sinh năm 1987 đều trú tại thôn G, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng xây dựng tường bao phía sau nhà vị trí giáp ranh với đất của nhà Nguyễn Thị H. Thấy T2 đang xây trên diện tích đất tranh chấp nên H yêu cầu T2 dừng lại dẫn đến hai bên lời qua tiếng lại. Thấy vậy, Nguyễn Mạnh D1, sinh năm 1986, trú tại thôn G, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng (là con trai H) đi đến dùng tay nhấc viên gạch trên bờ tường đang xây ra, dẫn đến T2 và D1 giằng co, xô xát đánh nhau. T2 dùng cùi chỏ tay phải đánh vào cằm D1, H2 cũng dùng tay bóp cổ D1, D1 dùng tay đấm vào mặt H2. Thấy vậy, H lấy 01 chiếc búa, cán bằng gỗ tối màu dài 35cm, mặt búa làm bằng kim loại hình chữ nhật, một đầu dẹt ở khu vực đang xây dựng chạy đến đập 02 nhát vào lưng của T2, D chạy đến túm cổ áo H kéo giật lại phía sau. T2 không đánh nhau với D1 nữa mà quay sang giằng co lấy búa của H và xô đẩy nhau ra khu vực cửa chính gần đường tỉnh lộ 352. D kéo áo D1 thì bị D1 dùng tay đấm vào miệng. Thấy hai bên đánh nhau chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1973, trú tại phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh cùng một số thợ xây đang làm ở đó can ngăn. Chị T3 chạy sang nhà Nguyễn Xuân T (con trai của H) cách đó khoảng 05 mét nói cho T biết việc H đang đánh nhau với T2. T chạy từ nhà đến khu vực xô xát đánh nhau, thấy H và T2 đang giằng co chiếc búa, T chạy đến dùng tay đấm vào người T2, hai bên xô đẩy nhau làm T ngã ngồi bệt xuống rìa đường, H cũng bị ngã ra nền nhà, T nhặt 01 miếng gỗ (dạng gỗ cốp pha) dài khoảng 40cm, bản rộng 04cm, dày khoảng 1cm ở khu vực bị ngã chạy đến đập 01 nhát trúng vùng đầu của T2, T tiếp tục đập nhát thứ 2 thì trúng vào cây cột chống cốp pha gần vị trí T2 đứng làm miếng gỗ bị gãy đôi, mảnh gỗ văng ra đập vào vùng mặt của T2 gây thương tích. Thấy vậy, D không đánh nhau với D1 nữa mà chạy đến xô đẩy, cào cấu vào người T, T dùng tay đấm vào mặt D. Sau đó, H2 chạy về nhà lấy 01 con dao bầu làm bằng kim loại tối màu dài khoảng 30cm, bản chỗ rộng nhất 05cm quay lại đuổi T. T chạy về nhà lấy 01 đoạn gỗ hình trụ tròn dài khoảng 01m, đường kính khoảng 05cm (dạng cây cột chống cốp pha) định đánh nhau với H2 nhưng bị chị T3 can ngăn giằng lấy đoạn gỗ vứt đi. Thấy H2 cầm dao xông đến thì T bỏ chạy và bị vấp ngã trầy xước đầu gối. Sau đó, H2 được mọi người can ngăn nên sự việc đánh nhau kết thúc.
Sau khi nhận được tin báo Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh, xác định hiện trường theo quy định. Nguyễn Xuân T tự nguyện giao nộp 01 đoạn gỗ hình trụ tròn dài 01m, đường kính 05cm và 02 miếng gỗ kích thước tổng cộng dài 43cm, miếng thứ nhất dài 25cm, miếng thứ hai dài 18cm, bản rộng nhất 04cm, bản hẹp nhất 02cm, dày trung bình 02cm; Nguyễn Thị H tự nguyện giao nộp 01 chiếc búa, cán bằng gỗ tối màu tổng chiều dài 37cm, quả búa bằng kim loại đặc, hình hộp kích thước 14x3,5x3,5cm, một đầu dẹt theo phương dọc, kích thước phàn hẹp nhất là 0,5cm; Chu Văn H2 tự nguyện giao nộp 01 con dao bầu làm bằng kim loại tối màu dài khoảng 33cm, có một lưỡi sắc dài 22cm, bản chỗ rộng nhất 06cm, đầu mũi bị gãy.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 73/2024/TgT ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Trung tâm P đối với Chu Văn T2 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương mi dưới mắt phải gây nên là 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết vết xây xước da vùng đỉnh đầu gây nên là 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương mặt trước trong đốt 2, 3 ngón V tay phải gây nên là 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo 02 vết xây xước da vùng lưng trái gây nên là 02%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết xây xước da mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái gây nên là 02%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết xây xước da mặt trước 1/3 giữa cẳng tay phải để lại vết biến đổi da gây nên là 0,5%. Hai mắt giảm thị lực do tật khúc xạ viễn loạn, không thấy tổn thương thực thể do chấn thương tại nhãn cầu nên không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Vết xây xước da vùng ngực, hai vai, cẳng bàn chân trái đã khỏi, không để lại dấu vết, không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích trên gây nên theo phương pháp cộng tại Thông tư là 09%. Các thương tích trên có đặc điểm do vật tày có góc cạnh cứng tác động trực tiếp gây nên.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 72/2024/TgT ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Trung tâm P đối với Chu Thị D kết luận: Vết thương bầm tím niêm mạc môi dưới bên trái không phải khâu, không để lại sẹo, không tổn thương nội sọ, không tổn thương xương sọ, xương hàm mặt, điện não đồ chưa thấy bất thường, không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Các thương tích trên có đặc điểm do vật tày tác động trực tiếp gây nên.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 84/2024/TgT ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Trung tâm P đối với Nguyễn Mạnh D1 kết luận: Các vùng sưng tím, đau phần mềm vùng cằm, ngực, bàn tay phải không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương ngón III bàn tay phải gây nên là 1%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích trên gây nên theo phương pháp cộng tại Thông tư là 1%. Các thương tích trên có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày, có thể có góc cạnh cứng gây nên.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 85/2024/TgT ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Trung tâm P đối với Nguyễn Xuân T kết luận: Vết xây xước da cằm không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết xây xước cổ trái gây nên là 2%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do 03 sẹo xây xước da gối trái gây nên là 3%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích trên gây nên theo phương pháp cộng tại Thông tư là 5%. Các vết xây xước da vùng cằm, cổ trái có đặc điểm do vật tày có góc cạnh tác động trực tiếp gây nên. Các vết xây xước da gối trái có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày có bề mặt không nhẫn gây nên.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân T, Nguyễn Thị H khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên. T và H đã tự nguyện bồi thường cho Chu Văn T2 số tiền 7.000.000 đồng. Bị cáo T bị thương tích yêu cầu Chu Văn T2, Chu Văn H2, Chu Thị D bồi thường số tiền 15.000.000 đồng gồm tiền viện phí, tiền thuốc điều trị do bị thương tích nhưng trước khi mở phiên tòa bị cáo T đã rút yêu cầu bồi thường này đối với anh Chu Văn T2, anh Chu Văn H2, chị Chu Thị D.
Bị hại là anh Chu Văn T2 khai nhận phù hợp nội dung nêu trên. Quá trình xảy ra xô xát đánh nhau anh T2 bị thương tích ở vùng đầu, mắt, bầm tím ở lưng và một số xây xước da ở tay. Anh yêu cầu T, H phải bồi thường số tiền 28.000.000 đồng. Hiện T đã bồi thường cho anh T2 số tiền 7.000.000 đồng, anh T2 yêu cầu T, H tiếp tục bồi thường số tiền 21.000.000 đồng. Tại phiên tòa, các bị cáo trình bày đã bồi thường đầy đủ cho bị hại thông qua Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng theo Biên lai thu tiền đề ngày 29/10/2024 và bị hại không có ý kiến, quan điểm gì thêm về phần bồi thường thiệt hại dân sự cho mình.
Lời khai của các bị cáo Nguyễn Xuân T, Nguyễn Thị H phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, các bản Kết luận giám định pháp y về thương tích, cùng đặc điểm các thương tích để lại trên thân thể nạn nhân và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng vụ án gồm: 01 chiếc búa, cán bằng gỗ tối màu tổng chiều dài 37cm, quả búa bằng kim loại đặc, hình hộp kích thước 14x3,5x3,5cm, một đầu dẹt theo phương dọc, kích thước phàn hẹp nhất là 0,5cm; 01 con dao bầu làm bằng kim loại tối màu dài khoảng 33cm, có một lưỡi sắc dài 22cm, bản chỗ rộng nhất 06cm, đầu mũi bị gãy; 01 đoạn gỗ hình trụ tròn dài 01m, đường kính 05cm và 02 miếng gỗ kích thước tổng cộng dài 43cm, miếng thứ nhất dài 25cm, miếng thứ hai dài 18cm, bản rộng nhất 04cm, bản hẹp nhất 02cm, dày trung bình 02cm chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên quản lý.
Về dân sự: Nguyễn Xuân T, Nguyễn Thị H đã bồi thường cho anh Chu Văn T2 số tiền 7.000.000 đồng, anh T2 yêu cầu T, H tiếp tục phải bồi thường số tiền 21.000.000 đồng và các bị cáo trình bày đã bồi thường đầy đủ 21.000.000 đồng còn lại cho bị hại thông qua Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng theo Biên lai thu tiền đề ngày 29/10/2024.
Tại Bản Cáo trạng số 202/CT-VKSTN ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T và bị cáo Nguyễn Thị H về tội Cố ý gây thương tích theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 227/2024/HS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã xác định: Ngày 18/12/2023, xuất phát từ mâu thuẫn từ trước trong tranh chấp đất đai, Nguyễn Thị H, Nguyễn Xuân T đã có hành vi dùng hung khí là thanh gỗ và búa đánh anh Chu Xuân T4 làm anh T4 tổn thương cơ thể 9% sức khỏe, tại khu vực thôn G, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Anh T4 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Cả hai bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Vì vậy, hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến thiệt hại cao nhất về sức khỏe của bị hại là 9% nên các bị cáo đã phạm tội Cố ý gây thương tích theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Bản án số 227/2024/HS-ST ngày 13/11/2024, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; 17; 58 của Bộ luật Hình sự, riêng bị cáo H áp dụng thêm Điều 65 và riêng bị cáo T áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự để tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Thị H đồng phạm tội “Cố ý gây thương tích”; xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 09 (Chín) tháng tù”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo T để thi hành án. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án.
Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về việc giao bị cáo Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo H cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; tuyên về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, về án phí, về quyền kháng cáo của bị hại và của các bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Xuân T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Ngày 23/01/2025, bị hại là anh Chu Văn T2 có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Thị H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Xuân T và bị hại Chu Văn T2 có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Do bị hại là anh Chu Văn T2 đã có đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hai bị cáo và việc rút yêu cầu khởi tố của bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Xuân T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, Viện Kiểm sát không kháng nghị. Kháng cáo bị cáo Nguyễn Xuân T trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Bản án sơ thẩm đã nhận định: Ngày 18/12/2023, xuất phát từ mâu thuẫn từ trước trong tranh chấp đất đai, Nguyễn Thị H và Nguyễn Xuân T đã có hành vi dùng hung khí là thanh gỗ và búa đánh anh Chu Xuân T4 làm anh T4 tổn thương cơ thể 9% sức khỏe, tại khu vực thôn G, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Anh Chu Văn T2 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Thị H đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích, theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3] Về kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T và việc rút yêu cầu khởi tố của bị hại Chu Văn T2: Sau khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm. Ngày 23/01/2025, bị hại là anh Chu Văn T2 có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi tố vụ án đối với các bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn Xuân T, đề nghị Tòa án phúc thẩm đình chỉ vụ án đối với các bị cáo. Tuy nhiên, trước khi xét xử phúc thẩm, ngày 23/01/2015, Tòa án đã làm việc với bị hại Chu Văn T2, tại buổi làm việc, bị hại Chu Văn T2 khẳng định bị hại làm Đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi tố vụ án đối với các bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn Xuân T trong trạng thái tinh thần minh mẫn, sáng suốt, sức khỏe bình thường, hoàn toàn tự nguyện, không chịu ép buộc bởi bất kỳ ai. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 2 Điều 155 và Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự để hủy bản án hình sự sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối với các bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn Xuân T về “Tội cố ý gây thương tích".
[4] Việc Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do bị hại là anh Chu Văn T2 yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đã rút toàn bộ yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm thẩm nên các bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Thị H không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
[5] Do bị hại là anh Chu Văn T2 rút toàn bộ đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện nên bị hại Chu Văn T2 không có quyền yêu cầu khởi tố lại vụ án hình sự nêu trên.
[6] Về việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính: Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: “1. Đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. ...”. Xét thấy, mặc dù bị hại Chu Văn T2 đã rút yêu cầu khởi tố vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án nhưng hành vi của Nguyễn Xuân T và Nguyễn Thị H có dấu hiệu vi phạm hành chính. Do đó, Tòa án chuyển hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị Công an huyện T, thành phố Hải Phòng nay là Công an thành phố T thuộc thành phố Hải Phòng xem xét xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Xuân T và Nguyễn Thị H theo quy định của pháp luật.
[7] Về dân sự: Do Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án nên số tiền 21.000.000 đồng mà các bị cáo đã bồi thường cho bị hại theo Biên lai thu tiền số 0007941 ngày 29/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng được trả lại cho Nguyễn Xuân T và Nguyễn Thị H.
[8] Việc xem xét bồi thường dân sự giữa anh Chu Văn T2 với Nguyễn Xuân T và Nguyễn Thị H được xem xét, giải quyết bằng một án dân sự khác theo trình tự tố tụng dân sự khi có yêu cầu.
[9] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do bị hại Chu Văn T2 đã rút yêu cầu khởi tố tại giai đoạn xét xử phúc thẩm và Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự để đình chỉ vụ án nên căn cứ khoản 3 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị hại Chu Văn T2 phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 155 và Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- - Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 227/2024/HS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng và đình chỉ vụ án.
- - Hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đã áp dụng đối với các bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Thị H.
2. Căn cứ Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính, chuyển hồ sơ cho Công an huyện T, thành phố Hải Phòng nay là Công an thành phố T thuộc thành phố Hải Phòng xem xét xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Xuân T, Nguyễn Thị H theo quy định.
3. Chuyển các vật chứng của vụ án cho Công an huyện T, thành phố Hải Phòng nay là Công an thành phố T thuộc thành phố Hải Phòng để giải quyết theo thẩm quyền, gồm có: 01 chiếc búa, cán bằng gỗ tối màu tổng chiều dài 37cm, quả búa bằng kim loại đặc, hình hộp kích thước 14x3,5x3,5cm, một đầu dẹt theo phương dọc, kích thước phàn hẹp nhất là 0,5cm; 01 con dao bầu làm bằng kim loại tối màu dài khoảng 33cm, có một lưỡi sắc dài 22cm, bản chỗ rộng nhất 06cm, đầu mũi bị gãy; 01 đoạn gỗ hình trụ tròn dài 01m, đường kính 05cm và 02 miếng gỗ kích thước tổng cộng dài 43cm, miếng thứ nhất dài 25cm, miếng thứ hai dài 18cm, bản rộng nhất 04cm, bản hẹp nhất 02cm, dày trung bình 02cm (Vật chứng có đặc điểm được mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng).
4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 3 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị hại là anh Chu Văn T2 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
5. Về số tiền bồi thường dân sự: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Thị Hằng số tiền 21.000.000 đ (Hai mươi mốt triệu đồng) mà các bị cáo đã bồi thường cho bị hại Chu Văn T2 theo Biên lai thu tiền số 0007941 ngày 29/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu Hằng |
Bản án số 16/2025/HS-PT ngày 13/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 16/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Hình sự xét xử phúc thẩm về tội "Cố ý gây thương tích": Đình chỉ và Hủy bản án sơ thẩm do bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố
