Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 16/2025/HS-ST

Ngày: 13-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hiền

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quyền

Ông Danh Hoàng Duyên

Bà Trần Thị Ngọc Trân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 135/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Phùng Trung T, sinh ngày 12 tháng 07 năm 1993 tại C - Cần Thơ; Nơi thường trú: Ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Nơi ở hiện nay: ấp C, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 01/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phùng Văn Bé T1, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Kim T2, sinh năm 1972; Vợ là Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1992 (không đăng ký kết hôn); Con là Lê Phùng Trung T3, sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/08/2024 cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị Kim S – Đoàn luật sư tỉnh K. (có mặt)

- Người bị hại: Bà Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1992 (có mặt)

Địa chỉ: ấp C, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

- Người làm chứng:

  1. Bà Lê Thị Á, sinh năm 1969 (vắng mặt)
    Địa chỉ: ấp C, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
  2. Bà Lê Thị H, sinh năm 1968 (vắng mặt)
    Địa chỉ: ấp C, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang .
  3. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1995 (vắng mặt)
    Địa chỉ: ấp B, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phùng Trung T và Lê Thị Mỹ L chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2019 đến năm 2022, L sinh được một người con tên Lê Phùng Trung T3 cùng cư trú tại ấp C, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Đến khoảng tháng 12/2023 giữa T và L xảy ra mâu thuẫn, do L thường xuyên đi uống rượu với người lạ nên T không sống cùng L nữa mà chuyển đến phường D ở trọ, đi làm thuê và thường xuyên về nhà của L tại địa chỉ nêu trên thăm con. Đến sáng ngày 22/01/2024, T về nhà của L để sửa nhà, thăm con và kêu L sống lại với nhau nhưng L không đồng ý dẫn đến hai người xảy ra cãi vã với nhau. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, L đi qua nhà của Lê Thị Á là cô ruột của L ở đối diện nằm trên võng sử dụng điện thoại, kế bên có Lê Thị Á và Lê Kim H1 mỗi người đang dùng 01 cây dao Thái Lan cán nhựa màu vàng để vá lưới ghẹ được khoảng 15 phút thì T đi qua, đứng trước cửa nhà của Á nói chuyện với L và kêu L sống lại với T để cùng nhau chăm lo cho con nhưng L vẫn không đồng ý và chửi T, đồng thời L nói “L đã làm giấy kết hôn với người khác”. Nghe vậy, T bước tới dùng tay nắm tóc, đánh 01 bạt tay vào mặt của L thì bị L nằm trên võng dùng chân đạp Tính té ngã tại khu vực của Á và H1 đang vá lưới. Thấy vậy, Á cùng H1 để 02 cây dao lại, bỏ chạy ra ngoài tìm người đến can ngăn nên T dùng tay phải nhặt lấy 01 cây dao của Á xông đến đâm liên tiếp nhiều nhát trúng vào các vùng chẩm - cổ trái, vai trái, ngực phải, vùng đùi - khoeo chân trái, gối trái, ngực trái, vai phải và cẳng tay trái của L làm L nằm bất động, trên người bị chảy nhiều máu. Thấy vậy, T bế L lên rồi nói: “anh xin lỗi đã đâm em” rồi đặt L nằm trên sàn nhà, liền điện thoại kể lại sự việc cho người bạn tên Nguyễn Văn T4 nghe và nhờ T4 đến đưa L đi cấp cứu. Do nghĩ rằng L sẽ chết nên T sử dụng cây dao vừa đâm L xong tự đâm 03 nhát trúng vào bụng và ngực của mình để tự tử làm cho lưỡi dao bị cong rồi T để cây dao xuống và nằm tại hiện trường cùng với L.

Sau khi nghe điện thoại của T xong, T4 điều khiển xe ô tô đến, cùng người thân của L đưa T và L đến Trung tâm y tế thành phố P cấp cứu điều trị cho đến ngày 01/02/2024 T xuất viện; còn L tiếp tục đưa đến Bệnh viện Đ điều trị đến ngày 30/01/2024 thì xuất viện.

* Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 380/KLTTCT-PY ngày 05/6/2024, của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh K đối với Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1992, địa chỉ ấp C, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang đã kết luận:

  1. Các kết quả chính:
    • Sẹo phần mềm vùng chẩm - cổ trái, vai trái và gối trái.
    • Vết thương vùng ngực phải, thấu ngực tràn khí màng phổi phải, đã được phẫu thuật dẫn lưu điều trị ổn.
    • Vết thương vùng đùi - khoeo chân trái, đứt động mạch khoeo chân trái, đã được phẫu thuật khâu nối động mạch.
    • Vùng vai phải hiện tại không có dấu vết thương tích.
  2. Kết luận:
  3. 2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị Mỹ L tại thời điểm giám định là: 18% (Mười tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

    2.2. Vật gây thương tích:

    • Thương tích vùng chẩm - cổ trái, vai trái, ngực phải, vùng đùi - khoeo chân trái và gối trái do vật sắc nhọn gây nên.
    • Vùng vai phải hiện không có dấu vết thương tích nên không có cơ sở kết luận vật gây thương tích.

    2.4. Về chức năng bộ phận cơ thể: Các thương tích không gây hạn chế chức năng bộ phận cơ thể”.

* Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 619/KLTTCT-PY ngày 19/9/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh K đối với Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1992, địa chỉ ấp C, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang đã kết luận:

  1. Các kết quả chính:
    • Sẹo phần mềm vùng ngực trái, vai phải và cẳng tay trái.
  2. Kết luận:
  3. 2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị Mỹ L tại thời điểm giám định do thương tích ở vùng ngực trái, vai phải và cẳng tay trái là: 03% (ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

    2.2. Vật gây thương tích: thương tích ở vùng ngực trái, vai phải và cẳng tay trái do vật sắc nhọn gây nên.

    2.3. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị Mỹ L (theo kết luận tại bản bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 380/KLTTCT-PY ngày 05/6/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh K và giám định bổ sung) là: 20% (hai mươi phần trăm)”.

* Tại bản Kết luận giám định vật gây thương tích số 382/KLVGTTT-PY ngày 05/6/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh K đối với Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1992, địa chỉ ấp C, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang đã kết luận:

  1. Các kết quả chính:
    • Mẫu vật (cây dao đánh dấu 1 và 2) gửi giám định đều là dạng vật sắc nhọn.
    • Thương tích ở vùng chẩm - cổ trái, vai trái, ngực phải, vùng đùi, khoeo chân trái và gối trái của Lê Thị Mỹ L do vật sắc nhọn gây nên.
  2. Kết luận:
  3. Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến, xác định:

    Mẫu vật (cây dao đánh dấu 1 và 2) gửi giám định đều có thể gây được thương tích ở vùng chẩm - cổ trái, vai trái, ngực phải, vùng đùi, khoeo chân trái và gối trái của Lê Thị Mỹ L”.

* Tại bản Kết luận giám định bổ sung vật gây thương tích số 620/KLVGTTT-PY ngày 19/9/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh K đối với Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1992, địa chỉ ấp C, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang đã kết luận:

  1. Các kết quả chính:
    • Mẫu vật (02 cây dao) đã được giám định tại bản kết luận giám định vật gây thương tích số 382/KLVGTTT-PY, ngày 05/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K đều là dạng vật sắc nhọn.
    • Thương tích ở vùng ngực trái, vai phải và cẳng tay trái của Lê Thị Mỹ L do vật sắc nhọn gây nên.
  2. Kết luận:
  3. Căn cứ kết quả giám định thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến, xác định:

    Mẫu vật (02 cây dao) đã được kết luận giám định tại bản kết luận giám định vật gây thương tích số 382/KLVGTTT-PY, ngày 05/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K đều có đặc tính giống với đặc tính của vật gây thương tích nên đều có thể gây được thương tích ở vùng ngực trái, vai phải và cẳng tay trái của Lê Thị Mỹ L”.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

  • - 01 (một) cây dao, loại dao Thái Lan dài 21cm; cán dao bằng nhựa màu vàng dài 10cm, có chữ Kiwi; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 11cm bị cong vênh, có cạnh sắc, chỗ rộng nhất 1,8cm, mũi bị gãy rộng 0,2cm.
  • - 01 (một) cây dao, loại dao Thái Lan dài 21cm; cán dao bằng nhựa màu vàng dài 10cm, có chữ Kiwi; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 11cm, có cạnh sắc, chỗ rộng nhất 1,8cm, mũi bị gãy rộng 0,5cm, đều được niêm phong.
  • - 02 (hai) cây dao nêu trên được niêm phong trong bao thư màu trắng của Trung tâm pháp y tỉnh K. Bên ngoài bao thư, mặt trước có ghi chữ “vật chứng gửi giám định ngày 28/5/2024, vụ Lê Thị Mỹ L – sinh năm: 1992”, mặt sau có chữ ký và tên “Châu Văn D” và đóng dấu của Trung tâm pháp y tỉnh K theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 02 ngày 18/12/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Tại bản Cáo trạng số: 09/CT-VKSTKG-P2, ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Phùng Trung T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận:

Bị cáo Phùng Trung T do mâu thuẫn tình cảm và cự cãi với bị hại Lê Thị Mỹ L nên đã dùng dao Thái Lan cán vàng, lưỡi bằng kim loại đâm nhiều nhát vào người của chị L với mục đích tước đoạt mạng sống của chị L. Do nghĩ chị L đã bị mình giết, bị cáo dùng dao tự đâm mình để tự tử nhưng sau đó được mọi người đưa đi cấp cứu kịp thời cả chị L và bị cáo đều không chết. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Từ đó, Viện kiểm sát có đủ căn cứ giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo, đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Giết người” và xem xét bị cáo phạm tội chưa đạt, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường, bị hại xin giảm nhẹ theo khoản 3 Điều 57, điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo mức án từ 07 đến 08 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã chi trả các khoản thuốc điều trị cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Viện kiểm sát không đều nghị.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy cá vật chứng là các cây dao đã thu giữ trong vụ án.

Về quan điểm bào chữa của luật sư: Thống nhất về tội danh bị cáo bị truy tố. Về tình tiết giảm nhẹ, thống nhất đề nghị của Viện Kiểm sát. Về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là lao động chính chu cấp nuôi dưỡng con chung với bị hại, phạm tội do nhất thời không kiềm chế được khi nghe bị hại nói kết hôn với người khác, đồng thời có ý thức nhờ người cứu chữa sau khi đâm bị hại. Từ đó đề nghị xử bị cáo mức án nhẹ nhất khung hình phạt có thể áp dụng.

Ý kiến bị hại: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và trình bày lời nói sau cùng: Rất hối hận về việc làm của mình, mong được giảm nhẹ hình phạt sớm trở về lo cho con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận như sau: Bị cáo chung sống như vợ chồng với L, có con chung, nhưng do mâu thuẫn cự cãi vợ chồng đã ly thân với nhau. Bị cáo vẫn thường tới lui nhà L thăm con và muốn quay lại với L nên ngày 22/01/2024, bị cáo về sửa nhà và năn nỉ L cho bị cáo về chung sống nhưng L không đồng ý mà chửi bị cáo rồi nói là đã kết hôn với người khác. Quá bực tức bị cáo bị cáo xông tới táng L 01 bạc tay, thì bị L đạp ra, bị cáo chụp dao Thái Lan cán vàng của dì L đang vá lưới gần đó bỏ lại cầm bằng tay phải đâm L nhiều nhát không xác định được trúng đâu. Thấy L chảy máu, nằm đó bị cáo nghĩ L chết nên dùng dao đâm nình 03 nhát để tự sát. Sau đó bị cáo gọi cho bạn mình biết đến đưa cả hai đi cấp cứu.

[3] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời trình bày của người bị hại, những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Kết luận giám định pháp y về thương tích và vật gây thương tích thể hiện nạn nhân Lê Thị Mỹ L bị 08 vết đâm tại các vùng chẩm - cổ trái, vai trái, vai phải, gối trái, đùi, ngực phải thấu ngực, tràn khí màng phổi với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20%, vật gây thương tích là vật sắc nhọn phù hợp với 02 con dao Thái Lan cán vàng thu giữ được tại hiện trường vụ án. Với hành vi do mâu thuẫn tình cảm cá nhân, đã dùng dao Thái Lan bằng kim loại đâm nhiều nhát vào người bị hại nhằm mục đích tước đoạt mạng sống bị hại như trên của bị cáo Phùng Trung T là đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” có tính chất côn đồ (thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt) theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự nước C năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Tội phạm mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, đến quyền được sống của người khác. Chỉ vì không được chị L đồng ý nối lại tình cảm với mình mà bị cáo đã cố ý dùng hung khí là dao Thái Lan sắc bén đâm chị L nhiều nhát bất chấp hậu quả xảy ra. Với những thương tích ở những vùng trọng yếu trên cơ thể thì việc bị hại được cứu chữa kịp thời, không chết là nằm ngoài mong muốn chủ quan của bị cáo. Hành vi của bị cáo là hết sức côn đồ, xem thường pháp luật, đồng thời gây mất an ninh ninh trật tự tại địa phương. Xét bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên việc truy tố và xét xử đối với bị cáo là đúng quy định. Sau khi xem xét toàn diện vụ án, tình tiết các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, ăn năn hối cải và bồi thường khắc phục hậu quả sau khi phạm tội. Từ đó, cần quyết định cho bị cáo một mức án tương xứng, có thời gian cách ly bị cáo với đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như nâng cao tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường khắc phục hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo và phạm tội chưa đạt nên cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự cũng là phù hợp.

[7] Về quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát: Về tội danh; hình phạt; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về quan điểm bào chữa của luật sư: Thống nhất quan điểm Viện kiểm sát cũng là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận bồi thường xong, không ai yêu cầu gì thêm, Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng trong vụ án.

[11] Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, khoản 3 Điều 57 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Phùng Trung T phạm tội “Giết người”;

    Xử phạt bị cáo Phùng Trung T 07 (bảy) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 19 tháng 8 năm 2024;

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy:

    • - 01 (một) cây dao, loại dao Thái Lan dài 21cm; cán dao bằng nhựa màu vàng dài 10cm, có chữ Kiwi; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 11cm bị cong vênh, có cạnh sắc, chỗ rộng nhất 1,8cm, mũi bị gãy rộng 0,2cm.
    • - 01 (một) cây dao, loại dao Thái Lan dài 21cm; cán dao bằng nhựa màu vàng dài 10cm, có chữ Kiwi; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 11cm, có cạnh sắc, chỗ rộng nhất 1,8cm, mũi bị gãy rộng 0,5cm.
    • - 02 (hai) cây dao nêu trên được niêm phong trong bao thư màu trắng của Trung tâm pháp y tỉnh K. Bên ngoài bao thư, mặt trước có ghi chữ “vật chứng gửi giám định ngày 28/5/2024, vụ Lê Thị Mỹ L – sinh năm: 1992”, mặt sau có chữ ký và tên “Châu Văn D” và đóng dấu của Trung tâm pháp y tỉnh K.

    (Theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 02/QĐ-VKSKG-P2 ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang và Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang)

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Phùng Trung T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
  4. Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1);
  • - VKSND Cấp cao tại tp. HCM (1);
  • - TAND Cấp cao tại tp . HCM (1);
  • - VKSND tỉnh KG (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh KG (1);
  • - THA tỉnh KG (1)
  • - Cơ quan điều tra tỉnh KG (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh KG (1);
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh KG;
  • - Bị cáo (1);
  • - Người liên quan (1);
  • - Luật sư (1);
  • - Tổ hành chính tư pháp (1);
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu tòa hình sự (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Diệu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về giết người

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phùng Trung T - Giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger