|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày: 13/02/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Lan Hương
Thẩm phán: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Ngọc Sương
Bà Phan Thị Ngọc Hiền
Ông Phan Tấn Phát
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Điểu Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 277/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 290/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 175/2024/HSST-QĐ ngày 17/12/2024, Thông báo dời thời gian mở phiên tòa số 03/TB-TA ngày 06/01/2025; Thông báo dời thời gian mở phiên tòa số 24/TB-TA ngày 20/01/2025 đối với bị cáo:
Trần Tuấn A; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không.
Căn cước công dân: [...] cấp ngày 27 tháng 08 năm 2022 (Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội).
Sinh ngày: 21/9/1999, tại tỉnh Thái Bình.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ E, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Trần Văn H– sinh năm 1974; Con bà: Hoàng Thị N – sinh năm 1979.
Gia đình có 02 anh em; Bị cáo là con lớn nhất và chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 28/01/2023 đến ngày 06/02/2023, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú để điều tra. Đến ngày 21/4/2024, bị bắt tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Có mặt).
Bị hại: Anh Phạm Ngọc Q, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Hẻm A, tổ E, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Xin vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn H, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Tổ E, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).
Người làm chứng:
- Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1979
Địa chỉ: Tổ E, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).
- Ông Trần Văn S, sinh năm 1980
Địa chỉ: Tổ E, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1990
Địa chỉ: Tổ E, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Thành M, sinh năm 1984
Địa chỉ: Tổ E, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nội dung chính của vụ án:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 27/01/2023, các anh Phạm Ngọc Q, sinh năm 1991; Nguyễn Thành M, sinh năm 1984; Trần Văn S, sinh năm 1980; Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1990; Trần Đình N1, sinh năm 1980 cùng cư trú tại tổ E, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và một số người khác (không rõ họ tên, địa chỉ) tổ chức uống rượu bia tại đường hẻm thuộc tổ E, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, ông Trần Văn H, sinh năm 1974, thường trú tổ E, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai điều khiển xe mô tô về nhà. Sau khi để xe ở nhà mình, ông H đi bộ đến vị trí nhóm anh Q đang uống rượu bia và nói đùa “Chú Quyền đại gia mà uống bia Sài G, không uống bia Ken cho hoành tráng” thì anh Q nói “Không có tiền nên uống bia Sài G, ông có nhậu thì ngồi, không thì về” nên ông H và anh Q xảy ra mâu thuẫn, xô xát đánh nhau bằng tay chân, cả hai bị trượt chân cùng ngã xuống đường. Lúc này, bà Hoàng Thị N, sinh năm 1979 (vợ ông H) nhìn thấy anh Q và ông H đang đánh nhau thì la lên “Tuấn A ơi, bố bị đánh”. Trần Tuấn A (là con ruột của ông H) đang ở trong nhà, nghe tiếng bà N truy hô nên Tuấn A chạy xuống nhà bếp của gia đình lấy (01) một dao bầu, dài 24 cm, mũi nhọn chạy đến vị trí anh Q và ông H đang đánh nhau rồi cầm dao xông đến đâm 01 (một) nhát vào vùng nách sau phải của anh Q gây thương tích. Tuấn A tiếp tục cầm dao đâm 01 (một) nhát nữa về phía anh Q thì anh Q dùng tay phải đỡ nên trúng vào bàn tay phải gây thương tích. Anh Q được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ cấp cứu và điều trị thương tích. Đến 21 giờ 55 cùng ngày, Trần Tuấn A đến Công an phường T đầu thú.
2. Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) con dao lưỡi bằng kim loại dài khoảng 24cm, cán dao bằng gỗ, mũi dao nhọn, lưỡi dao dạng bầu, trên lưỡi dao có vệt màu nâu sẫm nghi là máu, là hung khí Tuấn A đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 (một) USB có chứa file dữ liệu hình ảnh được trích xuất từ Camera của nhà dân tại khu vực xảy ra vụ án và 01 (một) đoạn video ghi âm, ghi hình lời khai bị cáo Trần Tuấn A (lưu tại hồ sơ vụ án).
(Bút lục số 114, 117).
3. Kết luận giám định:
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0068/TgT/2023 ngày 02/02/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận tỉ lệ thương tích của Phạm Ngọc Q như sau:
- Vết thương nách sau phải kích thước 06x0,2cm.
- Vết mổ đường trắng giữa trên rốn kích thước 12x0,2cm.
- Vết mổ bụng phải kích thước 15x0,2cm.
- Vết thương kẻ ngón 3-4 tay phải kích thước 03x0,2cm.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên vào thời điểm giám định của Phạm Ngọc Q là 07% (Bảy phần trăm).
Kết luận khác:
- + Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn.
- + Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra trưng cầu giám định bổ sung sau khi bệnh nhân điều trị ổn định và xuất viện để xác định đầy đủ các tổn thương và di chứng kèm theo nếu có?
(Bút lục số 16 – 18).
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0190/KLTTCT- TTPYĐN ngày 13/3/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ thương tích của anh Phạm Ngọc Q như sau:
- - Các kết quả chính: (Khám giám định, khám chuyên khoa, cận lâm sàng)
- + Tổn thương thủng cơ hoành đã phẫu thuật khâu cơ hoành.
- + Tổn thương (vết thương) nhu mô phổi phải đã điều trị hiện để lại mảng xẹp thùy dưới phổi phải.
- + Tổn thương rách màng ngoài tim đã phẫu thuật khâu màng ngoài tim kết quả tốt.
- + Tổn thương (vết thương) gan đã phẫu thuật khâu gan.
- + Sẹo mổ dẫn lưu ngực bên phải; sẹo mổ dẫn lưu dưới gan (vùng hông phải).
- + Kết quả khác: Không.
- - Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Phạm Ngọc Q tại thời điểm giám định bổ sung là 75% (Bảy mươi lăm phần trăm).
- - Kết luận khác: Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra xác minh tại Bệnh viện nơi bệnh nhân nằm điều trị có tổn thương gãy xương sườn số 9 bên phải hay không? Nếu có, đề nghị trưng cầu giám định bổ sung.
(Bút lục số 20 - 22).
Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 0338/KLTTCT – TTPYĐN ngày 11/4/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ thương tích của anh Phạm Ngọc Q như sau:
- - Các kết quả chính: (Khám giám định, khám chuyên khoa, cận lâm sàng)
- + Đã được Trung tâm P giám định kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể bổ sung là 75% tại bản kết luận giám định số 0190/KLTTCT-TTPYĐN ngày 13/3/2023.
- + Gãy xương sườn số 9 (số H) cung bên phải (do xương sườn số 12 bên phải bất sản, xương sườn số 12 bên trái thiểu sản).
- - Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Phạm Ngọc Q tại thời điểm giám định bổ sung là 75% (Bảy mươi lăm phần trăm).
- - Kết luận khác: không.
(Bút lục số 186 – 187).
Tại Bản kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 0345/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 17/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ đối với thương tích của anh Phạm Ngọc Q như sau:
- + Cơ chế hình thành vết thương:
- - Vết thương nách sau phải kích thước 06x0,2cm thấu ngực bụng gây: Gãy xương sườn số 9 bên phải, thủng gan, đứt tĩnh mạch gan giữa, rách màng ngoài tim, thủng cơ hoành, tràn máu màng phổi, tràn máu ổ bụng. Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động với lực mạnh vào vùng lưng phải (ngực sau bên phải) theo hướng từ sau ra trước và chếch từ trên xuống dưới gây nên.
- - Vết thương kẻ ngón 3-4 tay phải kích thước 03x0,2cm. Tổn thương này do vật sắc hoặc vật sắc nhọn tác động với lực tương đối vào vùng kẻ ngón 3 - 4 tay phải, chiều hướng tác động phụ thuộc vào tư thế bàn tay của bệnh nhân.
- + Với thương tích của Phạm Ngọc Q, nếu không được cấp cứu kịp thời có thể gây tử vong hay không?
Với các tổn thương: Vết thương nách sau phải kích thước 06x0,2cm thấu ngực bụng gây: gãy xương sườn số 9 bên phải, thủng gan, đứt tĩnh mạch gan giữa, rách màng ngoài tim, thủng cơ hoành, tràn máu màng phổi, tràn máu ổ bụng. Vết thương kẻ ngón 3-4 tay phải kích thước 03x0,2cm. Bệnh nhân Phạm Ngọc Q vào viện trong tình trạng: Da niêm nhợt. SpO2 80%. Mạch nhanh nhỏ. Huyết áp 86/61 mmHg. Nhịp thở 25 lần/phút (tình trạng sốc mất máu cấp). Như vậy các tổn thương của nạn nhân gây tình trạng sốc mất máu cấp thuộc loại cấp cứu khẩn cấp. Nếu không cấp cứu kịp thời thì có thể dẫn đến tử vong.
(Bút lục số 190 - 191).
Tại Bản kết luận giám định số 6639/KL-KTHS ngày 30/11/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: dấu vết màu nâu sẫm dính trên con dao bằng kim loại gửi giám định là máu người. Phân tích ADN từ dấu vết máu này được một kiểu gen nam giới, trùng với kiểu gen của anh Phạm Ngọc Q.
(Bút lục số 29).
4. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Phạm Ngọc Q yêu cầu bị cáo Trần Tuấn A bồi thường chi phí điều trị thương tích với số tiền 222.927.421 đồng. Sau đó, bị cáo và gia đình đã bồi thường cho bị hại số tiền 150.000.000 đồng, được anh Q có đơn bãi nại và không có yêu cầu gì khác.
5. Truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Tại Bản cáo trạng số 193/CT-VKS-P2 ngày 20/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Trần Tuấn A về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và Điều 15 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị xử phạt bị cáo Trần Tuấn A mức án từ 08 năm đến 10 năm tù về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo yêu cầu luật sư Nguyễn Văn T thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; Luật sư Phan Văn T1 và Luật sư Huỳnh Trung H1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo từ chối yêu cầu các luật sư Nguyễn Văn T, Phan Văn T1 và Huỳnh Trung H1 bào chữa cho bị cáo. Xét thấy đây là sự tự nguyện của bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 76, Điều 77 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 chấp nhận việc từ chối những người bào chữa theo yêu cầu nêu trên của bị cáo.
[3] Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa hôm nay, qua thẩm vấn công khai bị cáo Trần Tuấn A đã khai nhận vào khoảng 21 giờ 20 phút ngày 27/01/2023, tại đường H, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, do bức xúc việc anh Phạm Ngọc Q đánh ông Trần Văn H (cha bị cáo) nên bị cáo đã sử dụng 01 (một) con dao dài 24 cm, lưỡi bằng kim loại, lưỡi dao hình bầu dài 14 cm, đầu mũi dao nhọn, cán làm bằng gỗ dài 10 cm đâm trúng vào vùng nách sau phải và bàn tay phải của anh Phạm Ngọc Q gây vết thương thấu ngực bụng, gãy xương sườn số 9 bên phải, thủng gan, đứt tĩnh mạch gan giữa, rách màng ngoài tim, thủng cơ hoành, tràn máu màng phổi, tràn máu ổ bụng; Vết thương kẻ ngón 3-4 tay phải kích thước 03 x 0,2cm với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 75%.
Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ không đáng kể trong cuộc sống hàng ngày mà bị cáo đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm liên tiếp 02 nhát vào vùng trọng yếu của cơ thể, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của anh Q nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm, bất chấp hậu quả xảy ra. Việc anh Q không chết là do được cấp cứu kịp thời và ngoài ý thức chủ quan của bị cáo.
Như vậy, căn cứ Án lệ số 47 được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25/11/2021 và được công bố theo Quyết định số 594/QĐ-CA ngày 31/12/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp chưa đạt theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và Điều 15 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt thật nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử sẽ xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[4] Về Tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, được bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo nhất thời phạm tội do bênh vực cha mình, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017)
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra, anh Phạm Ngọc Q yêu cầu bị cáo Trần Tuấn A bồi thường chi phí điều trị thương tích với số tiền 222.927.421 đồng. Sau đó, bị cáo và gia đình đã bồi thường cho bị hại số tiền 150.000.000 đồng, được anh Phạm Ngọc Q có đơn bãi nại và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) con dao lưỡi bằng kim loại dài khoảng 24cm, cán dao bằng gỗ, mũi dao nhọn, lưỡi dao dạng bầu, trên lưỡi dao có vệt màu nâu sẫm nghi là máu, là hung khí bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) USB có chứa file dữ liệu hình ảnh được trích xuất từ Camera của nhà dân tại khu vực xảy ra vụ án và 01 (một) đoạn video ghi âm, ghi hình lời khai bị cáo Trần Tuấn A, được ưu tại hồ sơ vụ án.
[7] Về án phí:
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về vấn đề khác:
Đối với anh Phạm Ngọc Q và ông Trần Văn H có hành vi đánh nhau gây ồn ào, mất trật tự tại đường H, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai vào khoảng thời gian khoảng 21 giờ, Hoàng Thị N nhìn thấy anh Q và ông H đánh nhau nên la lên “Tuấn A ơi, bố bị đánh”, dẫn đến việc bị cáo Trần Tuấn A thực hiện hành vi phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Do đó hành vi của Phạm Ngọc Q, Trần Văn H, Hoàng Thị N có dấu hiệu phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tách và chuyển hồ sơ này đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, Điều 15, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Án lệ số 47 được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25/11/2021 và được công bố theo Quyết định số 594/QĐ-CA ngày 31/12/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao:
Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn A phạm tội “Giết người” (thuộc trường hợp chưa đạt).
Xử phạt Bị cáo Trần Tuấn A 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 4 năm 2024 được trừ thời gian tạm giữ trước từ ngày 28/01/2023 đến ngày 06/02/2023.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) con dao lưỡi bằng kim loại dài khoảng 24cm, cán dao bằng gỗ, mũi dao nhọn, lưỡi dao dạng bầu, trên lưỡi dao có vệt màu nâu sẫm nghi là máu được thu giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2024 tại Cục thi hành dân sự tỉnh Đ.
3. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Trần Tuấn A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, ông H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Lan Hương |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (tội giết người)
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố và xét xử về tội Giết người theo điểm n khoản 1 Điều 123
