TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày 12- 02 - 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Bộ.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Việt Tú.
2. Bà Nguyễn Thị Thuý Hoà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Phương Chinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 12/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 27/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HS ngày 03/12/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 02/2024/QĐXXST-HS ngày 16/12/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 13/01/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN VĂN T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 27/5/1944 tại C, Phú Thọ.
Nơi cư trú: khu V, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo.
Nghề nghiệp: Hiện già yếu; Trình độ học vấn: 0/10.
Bố đẻ: Nguyễn Văn T1 (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị C (đã chết)
Anh chị em ruột: Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ ba.
Vợ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1952, hiện nghỉ chế độ hưu trí tại xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Con: Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1978, con nhỏ nhất sinh năm 1981
Năm 1996, bị cáo được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất vì có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Không.
Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/9/2024. Hiện nay bị cáo đang tại ngoại tại xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt tại phiên toà).
Người bị hại:
Cháu Lê Vũ Hải L, sinh ngày 20/9/2013.
Địa chỉ: Khu V, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xin vắng mặt).
Người đại diện của bị hại:
1-Chị Vũ Thị M, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. (Có mặt).
2-Anh Lê Văn G, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại: Bà Bùi Thu H - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. (Có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1-Ông Vũ Văn D, sinh năm 1954.
Địa chỉ: Khu V, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 15/7/2024, Nguyễn Văn T, sinh năm 1944 ở khu V, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ đến nhà ông Vũ Văn D, sinh năm 1954 là hàng xóm cùng khu chơi. Tại đây, có cháu Lê Vũ Hải L, sinh ngày 20/9/2013, cháu Lữ Bảo H1, sinh ngày 13/4/2020, cháu Lữ Quốc A, sinh ngày 25/3/2023 (đều là cháu ngoại ông D) đang chơi ở phòng khách, vợ chồng ông D không có ở nhà. Nguyễn Văn T cho cháu L, cháu H1 và cháu A kẹo. Khi cháu L ngồi ở ghế gỗ dài (bộ bàn ghế ở phòng khách), do không thấy có người lớn ở nhà, để kích thích nhu cầu tình dục của mình nên T lại ngồi cạnh cháu L, dùng hai tay luồn qua nách cháu L và ôm cháu L từ phía sau, kéo cháu L ngả về người mình, rồi nhấc cháu L ngồi lên đùi mình đồng thời ôm vùng bụng cháu L. Cháu L vùng vẫy và hét lên nhưng Tự vẫn ôm cháu L rồi dùng tay phải vỗ 02 (hai) cái vào đùi phải cháu L (vỗ trực tiếp vào đùi cháu L, không qua lớp quần do cháu L mặc quần đùi ngắn) và ôm chặt ngực cháu L kéo về lòng mình. Cháu L tiếp tục vùng vẫy và thoát ra rồi chạy sang ngồi ở ghế gỗ đơn phía đối diện. Tự tiếp tục đi sang ngồi cạnh cháu L, dùng tay vỗ 01 (một) cái vào đùi cháu L và định ôm cháu L nhưng cháu L cúi người xuống không cho T ôm thì T vòng tay qua người ghì ôm cổ cháu L. T dùng tay trái giữ cháu L, tay phải bóp vùng ngực của cháu L hai cái (từ bên ngoài áo). Cháu L hét lên và chống cự gạt tay T ra thì T không ôm và bóp ngực cháu L nữa và đi về nhà.
Ngày 19/7/2024, chị Vũ Thị M, sinh năm 1991, HKTT: khu V, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ, nơi ở hiện tại: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (mẹ đẻ cháu L) đã trình báo sự việc đến Công an xã Đ. Đồng thời, chị M giao nộp: 01 (một) thẻ nhớ, trên thẻ có ghi chữ @hua, 32GB. Đây là thẻ nhớ được lắp trong camera an ninh tại phòng khách nhà ông D. Sau đó, Công an xã Đ đã chuyển nguồn tin về tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C để giải quyết theo quy định.
Cơ quan điều tra đã trích xuất dữ liệu 01 file video có tên “hiv00096.mp4", dung lượng 256MB (268,435,456 bytes), thời gian thể hiện trong video 05 giờ 52 phút 55 giây đến 06 giờ 45 phút 56 giây ngày 15/7/2024 và sao ra 01 USB bên ngoài có chữ “SanDisk” và 01 đĩa CD. Tiến hành niêm phong thẻ nhớ chị M giao nộp và niêm phong USB theo quy định.
Ngày 19/7/2024, Nguyễn Văn T tự nguyện giao nộp: 01 (một) chiếc áo sơ mi màu xanh than đã cũ; 01 (một) chiếc quần vải ống dài màu đen đã cũ. Tự trình bày đây là bộ quần áo T mặc khi đến nhà ông D vào ngày 15/7/2024.
Ngày 19/7/2024, chị Nguyễn Thị M1 tự nguyện giao nộp: 01 (một) chiếc áo phông nữ màu hồng đã cũ; 01 (một) chiếc quần đùi nữ màu hồng đã cũ. Chị M1 trình bày đây là bộ quần áo cháu L mặc vào ngày 15/7/2024.
Cơ quan điều tra tiến hành làm việc ghi nhận hình ảnh Nguyễn Văn T và cháu Lê Vũ Hải L mặc bộ quần áo trên. Đối chiếu với hình ảnh trong video chị M1 giao nộp, xác định phù hợp với hình ảnh người đàn ông và bé gái xuất hiện trong video.
Ngày 19/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định số 817 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh P giám định khả năng tình dục đối với Nguyễn Văn T.
Tại Kết luận giám định khả năng tình dục nam số 22/KLKNTD/TTPY ngày 22/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tại thời điểm giám định, bộ phận sinh dục của ông Nguyễn Văn T đầy đủ bộ phận, phát triển bình thường không có dấu vết tổn thương, đủ điều kiện để thực hiện giao hợp khi dương vật cương cứng.
Ngày 19/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định số 818 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh P giám định tổn thương bộ phận sinh dục và tỷ lệ tổn thương cơ thể (nếu có) đối với cháu Lê Vũ Hải L.
Tại Kết luận giám định xâm hại tình dục trẻ em số 22/KLTDTE/TTPY ngày 19/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận:
Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định:
+ Bộ phận sinh dục, màng trinh của cháu Lê Vũ Hải L không có dấu vết tổn thương.
+ Trên cơ thể cháu Lê Vũ Hải L không có dấu vết thương tích gì.
- Kết quả cận lâm sàng:
+ Kết quả siêu âm ổ bụng, tử cung phần phụ: Hiện tại bình thường.
+ Kết quả chụp Xquang lồng ngực: Bình thường.
Kết luận tại thời điểm giám định:
- Tổn thương bộ phận sinh dục: Bộ phận sinh dục, màng trinh của cháu Lê Vũ Hải L không có dấu vết tổn thương.
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Lê Vũ Hải L là: Trên cơ thể của cháu Lê Vũ Hải L không có dấu vết tổn thương nên Trung tâm pháp y không xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
Ngày 05/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định số 857 trưng cầu V - Bộ C1 giám định Kỹ thuật số và điện tử. Cụ thể:
- Đoạn File được lưu trong USB (tên “hiv00096.mp4”, dung lượng 256MB (268,435,456 bytes), thời gian thể hiện trong video 05 giờ 52 phút 55 giây đến 06 giờ 45 phút 56 giây ngày 15/7/2024) gửi giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa không? Thời gian khởi tạo?
- Các đối tượng trong bản ảnh so sánh (Mẫu 1 – Bản ảnh của Nguyễn Văn T, Mẫu 2 – Bản ảnh của cháu Lê Vũ Hải L) có xuất hiện trong File lưu trữ trong USB gửi giám định không?
- Mô tả hành động của các đối tượng trong File lưu trữ gửi giám định tại các mốc thời gian được thể hiện trong File: từ 06 giờ 28 phút 20 giây đến 06 giờ 29 phút 50 giây, từ 06 giờ 31 phút 00 giây đến 06 giờ 33 phút 09 giây, từ 06 giờ 33 phút 45 giây đến 06 giờ 34 phút 08 giây ngày 15/7/2024.
Tại Kết luận giám định số 5966/KL-KTHS ngày 13/9/2024 của V - Bộ C1 kết luận:
- Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa trong nội dung trong tệp video mẫu cần giám định. Thời gian khởi tạo của tệp video 15/7/2024, thời gian này có thể thay đổi được.
- Hình ảnh các đối tượng trong mẫu so sánh có xuất hiện trong tệp video mẫu cần giám định.
- Diễn biến nội dung sự việc, nội dung hội thoại trong tệp video mẫu cần giám định theo các mốc thời gian được thể hiện trong Phụ lục kèm theo Kết luận giám định (Bút lục 49-52). Trong đó:
+ Từ thời điểm 06:28:41 đến 06:29:50, Nam1 có hành động ôm Nữ1, kéo ngả về người mình, sau đó Nam1 ôm chặt phần thân trên của Nữ1. Từ thời điểm 06:31:00 đến 06:33:09, Nam1 có hành động ôm vùng bụng của Nữ1 kéo ngả về lòng mình, sau đó N dùng tay vỗ lên đùi của Nữ1 và dùng tay ôm chặt ngực của Nữ1 kéo về lòng mình. Từ thời điểm 06:33:45 đến 06:34:08, Nữ1 di chuyển ra vị trí khác để ngồi, Nam1 di chuyển ra gần vị trí Nữ1 có hành động ghì, ôm cổ Nữ1.
+ Thời điểm 06:31:23, 06:32:45 video có âm thanh giọng nam “Ông bế tỉ” (nhiều lần). Thời điểm 06:31:23, 06:32:45, 06:33:04 video có âm thanh giọng nữ “A, a”, “A, trêu con”, “Bỏ con ra”.
* H2 lại đối tượng giám định: Toàn bộ đối tượng gửi giám định (01 USB được niêm phong, bản ảnh Nguyễn Văn T, bản ảnh cháu Lê Vũ Hải L).
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C nhiều lần đến nơi cư trú của anh Lê Văn G, sinh năm 1984 (bố đẻ cháu L) ở thôn T, xã M, huyện T, tỉnh Bắc Ninh nhưng anh G đều không có nhà. Kết quả xác minh tại Công an xã M: có công dân có thông tin như trên tại địa phương, tuy nhiên tại thời điểm xác minh anh G không có mặt tại địa phương, chưa xác định được anh G đi đâu, làm gì. Chị Vũ Thị M (mẹ đẻ cháu L) ủy quyền cho ông Vũ Văn D (ông ngoại cháu L) tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện của cháu L.
Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản xác định hiện trường, các kết luận giám định, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 76/CT -VKSCK ngày 25/11/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử :
* Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 146; điểm b, i, o, s, x khoản 1 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.
Hình phạt chính:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 (Hai mươi bốn) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Hình phạt bổ sung:
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 - Bộ luật tố tụng Hình sự: Huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 09/2024/LCĐKNCT-TA ngày 27/11/2024 của Toà án nhân dân Huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
*Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho gia đình ông Vũ Văn D 01 (một) thẻ nhớ, trên thẻ có ghi chữ @hua, 32GB.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) chiếc áo phông nữ màu hồng đã cũ; 01 (một) chiếc quần đùi nữ màu hồng đã cũ là của cháu Lê Vũ Hải L; 01 (một) chiếc áo sơ mi màu xanh than đã cũ; 01 (một) chiếc quần vải ống dài màu đen đã cũ của Nguyễn Văn T.
(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/11/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê).
Đối với 01 (một) USB bên ngoài có chữ “SanDisk” được niêm phong (hoàn lại sau giám định) và 01 (một) CD lưu cùng hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 586, Điều 592, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho cháu L 17.880.000 đồng (Mười bẩy triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng). Trong đó 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền chi phí đi lại, 16.380.000 đồng (Mười sáu triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) tiền bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần. Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn T đã tự nguyện bồi thường cho cho cháu L số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0004081 ngày 05/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê. Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho cháu L số tiền 7.880.000 đồng (Bẩy triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).
*Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 - Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự cho bị cáo Nguyễn Văn T do bị cáo là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật.
Người đại diện cho bị hại là anh Lê Văn G (Bố đẻ của cháu L) vắng mặt tại phiên Tòa. Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt người đại diện cho bị hại. Xét thấy người đại diện cho bị hại là anh G đã được triệu tập hợp lệ 02 lần và hôm nay chị Vũ Thị M (Mẹ đẻ cháu L) là người trực tiếp trông nom chăm sóc nuôi dưỡng cháu L, tại phiên toà chị M đề nghị xét xử vắng mặt anh G nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án là phù hợp.
[2]. Về những chứng cứ xác định có tội được xác định như sau: Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 15/7/2024, tại phòng khách nhà ông Vũ Văn D ở khu V, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ, vợ chồng ông D đi vắng chỉ có ba cháu nhỏ ở nhà, Nguyễn Văn T có hành vi dùng tay vỗ vào đùi, bóp ngực (qua lớp áo) của cháu Lê Vũ Hải L (sinh ngày 20/9/2013) khi cháu L mới 10 tuổi 9 tháng 25 ngày. Hành vi của T là hành vi tiếp xúc về thể chất trực tiếp vào đùi và gián tiếp qua lớp áo vào ngực là bộ phận nhạy cảm trên cơ thể cháu L (người dưới 16 tuổi), có tính chất tình dục nhưng không nhằm mục đích giao cấu.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T đã phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định:
“Điều 146. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Do vậy, bản cáo trạng số 76/CT-VKSCK-HS ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê truy tố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” quy định tại khoản 1 Điều 146 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lỗi cố ý; mức độ phạm tội là ít nghiêm trọng. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với động cơ, mục đích kích thích nhu cầu tình dục của bản thân đã xâm phạm nhân phẩm, danh dự của công dân được pháp luật bảo vệ. Nên hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn T thực hiện hành vi phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người đủ 70 tuổi trở lên; quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; năm 1996, bị cáo được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất vì có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng 04 (bốn) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, o, s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án bị cáo đã cùng gia đình tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê 10.000.000 đồng để bồi thường cho cháu L nên bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về nhân thân của bị cáo: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội; căn cứ tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đảm bảo trừng trị, giáo dục riêng đối với bị cáo; phòng ngừa chung trong xã hội; mà còn thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 146 Bộ luật hình sự: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người già, đã hơn 80 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[6]. Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 01 (một) thẻ nhớ, trên thẻ có ghi chữ @hua, 32GB là của gia đình ông Vũ Văn D trả lại cho gia đình ông D là phù hợp.
Đối với 01 (một) chiếc áo phông nữ màu hồng đã cũ; 01 (một) chiếc quần đùi nữ màu hồng đã cũ là của cháu Lê Vũ Hải L; 01 (một) chiếc áo sơ mi màu xanh than đã cũ; 01 (một) chiếc quần vải ống dài màu đen đã cũ là của Nguyễn Văn T, chị M đại diện người bị hại và bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu các vật chứng trên để tiêu huỷ.
Đối với 01 (một) USB bên ngoài có chữ “SanDisk” được niêm phong (hoàn lại sau giám định) và 01 (một) CD lưu cùng hồ sơ vụ án.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại là chị Vũ Thị M đề nghị bị cáo bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm cho cháu Lê Vũ Hải L số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Tại phiên toà bị cáo, người đại diện của bị hại không thoả thuận được với nhau về bồi thường số tiền trên. Quá trình điều tra và tại phiên toà người bị hại và đại diện bị hại không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho đề nghị mức bồi thường thiệt hại của mình. Tại phiên toà chị Vũ Thị M đề nghị bị cáo bồi thường chi phí thuê xe đi lại để yêu cầu cơ quan chức năng xác minh sự việc tổng là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và đề nghị bị cáo phải bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần theo quy định của pháp luật, ngoài ra do cháu L không mất chi phí gì khác để hạn chế, khắc phục thiệt hại, cháu L không có thu nhập bị mất hoặc giảm sút nên gia đình chị không đề nghị bị cáo phải bồi thường những chi phí này. Tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường chi phí thuê xe đi lại cho bị hại là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), còn khoản bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần thì bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Xét thấy về bồi thường thiệt hại HĐXX thấy rằng: Do gia đình cháu L trình bày chỉ đề nghị bị cáo bồi thường số tiền chi phí đi lại là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng), gia đình cháu không mất chi phí gì khác để hạn chế, khắc phục thiệt hại, cháu L không có thu nhập bị mất hoặc giảm sút nên gia đình cháu L không đề nghị bị cáo phải bồi thường những chi phí này. Tại phiên toà đại diện gia đình bị hại và bị cáo thống nhất bị cáo bồi thường số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền chi phí đi lại cho cháu L nên cần chấp nhận.
Về bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần: cần buộc bị cáo phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho cháu L. Tại phiên toà, đại diện bị hại và bị cáo không thoả thuận được mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần. Cháu L đã được giám định nhưng không bị tổn thương gì, theo quy định tại khoản 2 Điều 592 BLDS là mức bồi thường tổn thất về tinh thần không vượt quá 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, vì vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho cháu L 07 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định: 07 x 2.340.000 đồng = 16.380.000 đồng là phù hợp.
[8]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Tự D1 là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và mong muốn Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Khoản 1 Điều 146; điểm b, i, o, s, x khoản 1 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.
*Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 - Bộ luật tố tụng Hình sự: Huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 09/2024/LCĐKNCT-TA ngày 27/11/2024 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho gia đình ông Vũ Văn D 01 (một) thẻ nhớ, trên thẻ có ghi chữ @hua, 32GB.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) chiếc áo phông nữ màu hồng đã cũ; 01 (một) chiếc quần đùi nữ màu hồng đã cũ là của cháu Lê Vũ Hải L; 01 (một) chiếc áo sơ mi màu xanh than đã cũ; 01 (một) chiếc quần vải ống dài màu đen đã cũ của Nguyễn Văn T.
(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/11/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê).
Đối với 01 (một) USB bên ngoài có chữ “SanDisk” được niêm phong (hoàn lại sau giám định) và 01 (một) CD lưu cùng hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 586, Điều 592, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho cháu L 17.880.000 đồng (Mười bẩy triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng). Trong đó 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền chi phí đi lại, 16.380.000 đồng (Mười sáu triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) tiền bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần. Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn T đã tự nguyện bồi thường cho cho cháu L số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0004081 ngày 05/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê. Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho cháu L số tiền 7.880.000 đồng (Bẩy triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thực hiện việc thanh toán tiền, thì bên phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi xuất phát sinh do chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
*Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 - Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự cho bị cáo Nguyễn Văn T do bị cáo là người cao tuổi.
*Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người đại diện người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo Bản án; Bị hại, người đại diện người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại nơi cư trú để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND huyện Cẩm Khê; - Cơ quanTHAHS CA huyện Cẩm khê; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê; - Bị cáo; - Bị hại; - Người đại diện bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu HS+VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Bộ |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ về dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Tự phạm tội dâm ô với trẻ em
