Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 10 - 02 - 2025.

V/v ly hôn giữa chị N và anh H.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Mỹ Ngọc.

Bà Đặng Ngọc Thu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Minh Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia phiên tòa: Ông Dương Cẩm Hào – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025 tại phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố V tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 307/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2025/QĐST-DS ngày 15/01/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 2002; nơi cư trú: Số nhà 112, khóm P, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trương Văn H, sinh năm 1998; nơi cư trú: Số nhà 112, đường H, Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 26 tháng 8 năm 2024 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh N trình bày: Chị và anh H sau thời gian tìm hiểu đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 14 tháng 6 năm 2001, Chị cùng anh H chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh H không lo làm ăn, đời sống hôn nhân không hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay.

Vì mâu thuẫn nêu trên, nên chị N yêu cầu giải quyết được ly hôn với anh H. Chị và anh H chung sống với nhau có 01 người con chung tên Trương Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 22/9/2021. Khi ly hôn chị N yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng.

Tài sản chung; nợ chung: Không có, yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Trương Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc nguyên đơn chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thanh N và anh Trương Văn H kết hôn năm 2001, có đăng ký kết hôn đúng trình tự quy định của pháp luật. Sống chung với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, từ đó đã sống ly thân, nên chị Ngân có đơn yêu cầu xin được ly hôn với anh H, anh H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố V.

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố V, Tòa án nhân dân thành phố V thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, anh H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần vắng mặt không có lý do, chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Theo chứng cứ do chị N cung cấp có trong hồ sơ vụ án, thể hiện chị N và anh H có đăng ký kết hôn vào ngày 14 tháng 6 năm 2001. Thời gian chung sống thì phát sinh mâu thuẫn và không tự giải quyết được, cuộc sống không hạnh phúc dẫn đến việc chị N và anh H sống ly thân, anh H được triệu tập nhiều lần không đến tham gia giải quyết, từ đó cho thấy Anh không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng, nên xét thấy việc chị N yêu cầu được ly hôn với anh H là có cơ sở chấp nhận, đúng với quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị N và anh H chung sống với nhau có 01 người con chung tên Trương Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 22/9/2021, khi ly hôn chị N yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng.

Xét thấy, từ khi ly thân đến nay cháu cháu Hoàng A là do chị N nuôi dưỡng. Nhằm tạo sự ổn định cho cháu, xét yêu cầu của chị N về việc nuôi con chung là có cơ sở chấp nhận, đúng với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về cấp dưỡng; về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[5] Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nguyên đơn trong vụ án hôn nhân và gia đình phải chịu tiền án phí, do đó chị N phải nộp án phí số tiền 300.000 đồng.

[6] Tại phiên tòa, Kiểm sát viêm đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc nguyên đơn chịu án phí theo quy định là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thanh N ly hôn anh Trương Văn H.
  2. Về nuôi con chung:

    Giao cháu Trương Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 22/9/2021 cho chị N nuôi dưỡng.

    Không ai được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung đối với anh H, nhưng nếu anh H lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con đối với anh H.

  3. Về án phí sơ thẩm:

    Buộc chị Nguyễn Thị Thanh N nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm, trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) chị Ngân đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, theo biên lai thu tiền số 0007226 ngày 24/9/2024, chị N đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND thành phố V;
  • - Chi cục THADS thành phố V;
  • - UBND Phường T, thành phố V;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hồ Thanh Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH LONG về hôn nhân và gia đình (ly hôn)

  • Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình (Ly hôn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về việc chị N xin ly hôn với anh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger