|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày: 07-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cương;
Bà Trần Thị Đẹp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hương Trầm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 240/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Đoàn Văn T sinh năm 1992 tại tỉnh Thanh Hóa; Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 09/11/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi cư trú: thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở trước khi bị bắt: tiệm xăm Còi T, đường D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Thợ xăm; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn C, sinh năm 1968 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1968; bị cáo có vợ tên Ngô Thị X, sinh năm 1994 và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2024 đến nay; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Văn T: Ông Lưu Văn B - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; vắng mặt do bị cáo từ chối người bào chữa.
- Người làm chứng:
- Bà Ngô Thị X, sinh năm 1994; vắng mặt.
- Ông Trần Quang H, sinh năm 1998; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Duy T1, sinh năm 1996; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ ngày 12/8/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố B phối hợp cùng Công an phường T, thành phố B kiểm tra hành chính tiệm xăm còi T, đường D, khu phố C, phường T, thành phố B do Đoàn Văn T và vợ là Ngô Thị X thuê ở. Qua kiểm tra phát hiện, tạm giữ dưới bàn gỗ trong phòng có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đoàn Văn T phát hiện, thu giữ dưới bàn ghế gỗ trong phòng:
- - 01 hộp giấy màu cam, nắp màu đen bên trong có 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (đã được niêm phong).
- - 01 hộp giấy màu cam, nắp màu đen bên trong chứa 05 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (đã được niêm phong).
- - 01 túi nylon miệng kéo dính chứa 38 viên nén màu xám (đã được niêm phong).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B lập biên bản tạm giữ:
- - 01 điện thoại di động hiệu XS Max màu trắng;
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max màu trắng, gắn sim thuê bao số 0962307246;
Căn cứ Kết luận giám định số 3861/KL-KTHS(MT) ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 48,4203gam (M1); 7,2381gam (M2-1);
Viên nén gửi giám định là ma túy, loại MDMA có khối lượng 20,6945gam (M2-2);
Quá trình điều tra xác định: Đoàn Văn T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy đá (Methamphetamine). Năm 2020, T thuê căn nhà trên đường D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương để mở tiệm xăm đặt tên Còi T2 và sinh sống cùng vợ là Ngô Thị X và 02 con nhỏ, T thường sử dụng ma túy một mình tại căn nhà này. Khoảng tháng 4/2023 để có tiền tiêu xài, T mua ma túy về phân chia thành nhiều gói nhỏ để bán lại cho các đối tượng nghiện trên địa bàn và khu vực giáp ranh kiếm tiền lời. Nguồn ma túy do T mua của một người phụ nữ (không rõ lai lịch) trên mạng xã hội Facebook và thông qua ứng dụng Telegram tên tài khoản "Xkbay”. T đã mua ma túy của người phụ nữ trên được 03 lần với giá từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, loại ma túy khay (Ketamine) và thuốc lắc (MDMA), cụ thể:
Lần thứ nhất: ngày 05/8/2024, T mua ma túy của người phụ nữ trên với số lượng 50 số (khoảng 05 gam Ketamine) và 10 viên thuốc lắc với giá 5.000.000 đồng.
Lần thứ hai: ngày 09/8/2024, T mua ma túy của người phụ nữ trên với số lượng 200 số (khoảng 20 gam Ketamine) và 10 viên thuốc lắc với giá 15.000.000 đồng.
Lần thứ ba: khoảng 17 giờ ngày 11/8/2024, T sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax, màu trắng, thông qua ứng dụng Telegram tài khoản “Annam1992 Annam” nhắn tin cho người phụ nữ bán ma túy hỏi mua 30 viên “kẹo” (thuốc lắc) và 200 số (tương đương khoảng 20 gam Ketamine) với giá 20.000.000 đồng. T nhờ người bán phân chia giúp T trước 05 túi nylon chứa Ketamine do T không có cân. Sau đó, T gửi địa chỉ giao ma túy tại tiệm X1, đường D, khu phố C, phường T, thành phố B kèm theo số điện thoại 0962.307.xxx của T cho người bán ma túy. Khoảng 20 giờ cùng ngày, tài xế xe công nghệ G giao cho T 02 hộp giấy hình chữ nhật màu cam, nắp màu đen gói bên ngoài là nylon màu trắng. Sau khi nhận ma túy, T đưa 20.000.000 đồng cho tài xế chạy xe G và đem 02 thùng giấy vào nhà kiểm tra thấy bên trong hộp thứ nhất có 05 túi nylon miệng kéo dính chứa Ketamine và 01 túi nylon miệng kéo dính chứa 30 viên nén MDMA (thuốc lắc), 01 hộp giấy còn lại bên trong có 01 túi nylon miệng kéo dính chứa Ketamine. Sau đó, T lấy 09 viên thuốc lắc và 01 túi ma túy (Ketamine) còn dư chưa bán hết đổ dồn chung với số ma túy vừa mua. Ma túy mua được, T cất giấu trong 02 hộp giấy màu cam, nắp màu đen để dưới gầm bàn gỗ trong tiệm Còi T2 bán cho những đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn phường T và khu vực giáp ranh để kiếm lời. Cách thức giao dịch mua bán ma túy giữa T và người mua (các đối tượng nghiện) là khi cần mua ma túy họ sẽ đến trực tiếp tiệm xăm của T gặp trực tiếp T để mua ma túy hoặc liên lạc với T qua số điện thoại 0962.307.xxx hoặc liên lạc qua ứng dụng Zalo tên tài khoản “Tùq” để đặt mua ma túy. Sau đó T trực tiếp bán ma túy cho người mua tại khu vực trước cửa tiệm xăm của T, nếu những người mua ma túy ở xa, T chủ động đặt xe ô tô taxi và mang ma túy đi giao ở những địa điểm không cố định nằm trên địa phận thành phố B và nhận tiền mặt từ người mua ma túy. Ngoài ra, người mua ma túy cũng trả tiền cho T bằng hình thức chuyển tiền vào tài khoản 0962307246 tên Đoàn Văn T mở tại Ngân hàng Q1 (M). T không nhớ bán ma túy cho bao nhiêu người mua và bao nhiêu lần, tuy nhiên T bán ma túy cho Nguyễn Duy T1, sinh năm 1996, nơi thường trú: 1 N, Phường 1, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh được 03 lần, cụ thể:
Lần thứ nhất: khoảng 22 giờ ngày 10/8/2024, T bán cho Nguyễn Duy T1 "01 chấm khay”, tương đương khoảng 01 gam Ketamine và 02 viên thuốc lắc với giá 1.900.000 đồng, tuy nhiên để giữ khách khi mua lần đầu nên T giảm cho T1 400.000 đồng. Ngày 11/8/2024, T1 chuyển 1.500.000 đồng tiền mua ma túy vào tài khoản của T.
Lần thứ hai: khoảng 16 giờ ngày 11/8/2024 T bán cho T1 “nửa hộp khay”, tương đương khoảng 2,5 gam Ketamine và 05 viên thuốc lắc với giá 4.500.000 đồng, T1 giao tiền cho T tại trước cửa tiệm xăm của T.
Lần thứ ba: khoảng 09 giờ ngày 12/8/2024, Nguyễn Duy T1 điện thoại qua Zalo cho T hỏi mua 01 viên thuốc lắc và “01 chấm khay" (tương đương 01 gam Ketamine) với giá 1.300.000 đồng. Sau đó, T lấy số ma túy mua được ngày 11/8/2024 ra phân chia ma túy theo yêu cầu của T1. Khoảng 30 phút sau, T1 đi đến tiệm xăm của T lấy ma túy, T giảm cho T1 100.000 đồng, T1 chuyển 1.200.000 đồng vào tài khoản của T. Số ma túy mua của T, T1 đã sử dụng hết.
Tại Cáo trạng số 10/CT-VKSBD-P1 ngày 12 tháng 12 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Đoàn Văn T tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo là người có đủ năng lực, nhận thức rõ hành vi đã thực thực hiện là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội; điều đó cho thấy ý thức chủ quan của bị cáo là coi thường, thách thức pháp luật nhằm thoả mãn thỏa mãn nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, mục đích tư lợi của bản thân.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội, xâm phạm tới chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và đặt ra những khung hình phạt rất nghiêm khắc cho loại tội phạm này.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn T mức hình phạt từ 17 (mười bảy) năm đến 18 (mười tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
* Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu, tiêu hủy:
- + 02 bì thư niêm phong số 3861/PC09 (M1) và 3861/PC09 (M2) bên ngoài có chữ ký của người chứng kiến Đoàn Văn T, chữ ký của cán bộ nhận mẫu Đinh Công T3, chữ ký của cán bộ trả mẫu Đoàn Nguyễn Thiện Q, bên trong đựng số ma túy sau giám định.
- + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và 02 hộp giấy màu cam, cắp đen.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- + 01 điện thoại di động hiệu XS Max màu trắng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max màu trắng, gắn sim thuê bao số 0962307246 của Đoàn Văn T sử dụng vào việc phạm tội.
- + Đối với số tiền thu lợi từ việc mua bán trái phép chất ma túy: Đoàn Văn T mua bán trái phép chất ma túy thu lợi bất chính 10.000.000 đồng cần buộc T nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.
* Bị cáo Đoàn Văn T không tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo Đoàn Văn T mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm được hòa nhập với xã hội, đoàn tụ với gia đình và làm lại từ đầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện việc điều tra, truy tố đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra, ông Lưu Văn B - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B được phân công bào chữa cho bị cáo Đoàn Văn T nhưng bị cáo từ chối Luật sư bào chữa cho bị cáo; tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên ý kiến từ chối Luật sư bào chữa. Xét đây là sự tự nguyện của bị cáo nên căn cứ Điều 77, khoản 1 Điều 291 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đối với bị cáo Đoàn Văn T không có người bào chữa.
[3] Đối với người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa: những người này đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án và được công bố tại phiên tòa, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những người làm chứng.
[4] Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, các kết luận giám định, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Năm 2020, bị cáo Đoàn Văn T thuê căn nhà trên đường D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương để mở tiệm xăm đặt tên Còi T2. Khoảng tháng 4/2023 để có tiền tiêu xài, bị cáo T mua ma túy về phân chia thành nhiều gói nhỏ để bán lại cho các đối tượng nghiện trên địa bàn và khu vực giáp ranh kiếm tiền lời. Bị cáo T mua ma túy của một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) trên mạng xã hội Facebook và thông qua ứng dụng Telegram tên tài khoản "Xkbay” 03 lần với số tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, loại ma túy khay (Ketamine) và thuốc lắc (MDMA), cụ thể:
Lần thứ nhất: ngày 05/8/2024, bị cáo T mua số lượng 50 số (khoảng 05 gam Ketamine) và 10 viên thuốc lắc với giá 5.000.000 đồng.
Lần thứ hai: ngày 09/8/2024, bị cáo T mua số lượng 200 số (khoảng 20 gam Ketamine) và 10 viên thuốc lắc với giá 15.000.000 đồng.
Lần thứ ba: ngày 11/8/2024, bị cáo T sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax, màu trắng, thông qua ứng dụng Telegram tài khoản “Annam1992 A” nhắn tin cho người phụ nữ mua 30 viên “kẹo” (thuốc lắc) và 200 số (tương đương khoảng 20 gam Ketamine) với giá 20.000.000 đồng.
Số ma túy trên, bị cáo T chia nhỏ bán cho các đối tượng nghiện ma túy và bán cho Nguyễn Duy T1 được 03 lần với số tiền 7.200.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính do ma bán trái phép chất ma túy là 10.000.000 đồng.
Ngày 12/8/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố B kiểm tra phát hiện thu giữ của bị cáo Đoàn Văn T 01 hộp giấy màu cam, nắp màu đen bên trong có 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, 01 hộp giấy màu cam, nắp màu đen bên trong chứa 05 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, 01 túi nylon miệng kéo dính chứa 38 viên nén màu xám (đã được niêm phong). Qua giám định là ma túy có khối lượng 55,6584 gam Ketamine và 20,6945 gam MDMA.
Hành vi của bị cáo Đoàn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đoàn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo Đoàn Văn T là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và sẽ bị nghiêm trị nhưng vì động cơ tư lợi mà bị cáo đã cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Hiện nay, tình hình mua bán trái phép chất ma túy với số lượng lớn tại tỉnh Bình Dương nói riêng và trên cả nước nói chung đang diễn biến phức tạp với nhiều thủ đoạn tinh vi. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện nhằm có tác dụng giáo dục, trừng trị đối với bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa cho xã hội.
[6] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo mức hình phạt cho phù hợp.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[8] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[9] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo Đoàn Văn T là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
- Đối với chất ma túy và các dụng cụ sử dụng chất ma túy mà cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo cần tịch thu, tiêu hủy, gồm:
- + 02 bì thư niêm phong số 3861/PC09 (M1) và 3861/PC09 (M2) bên ngoài có chữ ký của người chứng kiến Đoàn Văn T, chữ ký của cán bộ nhận mẫu Đinh Công T3, chữ ký của cán bộ trả mẫu Đoàn Nguyễn Thiện Q, bên trong đựng số ma túy sau giám định.
- + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và 02 hộp giấy màu cam, cắp đen.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu XS Max màu trắng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max màu trắng, gắn sim thuê bao số 0962307246 của Đoàn Văn T; đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 10.000.000 đồng là tiền bị cáo Đoàn Văn T thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy nên cần buộc bị cáo nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.
[11] Đối với bà Ngô Thị X (vợ của Đoàn Văn T) sinh sống cùng với T tại căn nhà mở tiệm xăm Còi T, đường D, khu phố C, phường T, thành phố B nhưng không biết T cất giữ ma túy trong nhà để mua bán trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý.
[12] Đối với Trần Quang H có mặt tại nhà của Đoàn Văn T khi lực lượng Công an kiểm tra, H không biết T mua bán trái phép chất ma túy và không giúp sức cho T trong hoạt động mua bán ma túy nên không có căn cứ xử lý.
[13] Đối với người phụ nữ sử dụng mạng xã hội Telegram tên tài khoản “Xkbay” bán ma túy cho Đoàn Văn T, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
[14] Đối với Nguyễn Duy T1 là người mua ma túy của Đoàn Văn T để sử dụng, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã khởi tố, tạm giam trong vụ án hình sự khác
[15] Về án phí sơ thẩm: bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục Án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về áp dụng điều luật và hình phạt:
Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 8 năm 2024.
- Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
3.1 Tịch thu, tiêu hủy:
- + 02 (hai) bì thư niêm phong số 3861/PC09 (M1) và 3861/PC09 (M2) bên ngoài có chữ ký của người bị bắt Đoàn Văn T, người chứng kiến Trần Quang H, Ngô Thị X; cán bộ niêm phong Đinh Công T3; giấy niêm phong có chữ ký của cán bộ nhận mẫu Đinh Công T3, người chứng kiến Đoàn Văn T, cán bộ trả mẫu Đoàn Nguyễn Thiện Q và dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B; bên trong chứa ma túy Ketamine và MDMA, theo Kết luận giám định số 3861/KL-KTHS(MT) ngày 19/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B.
- + 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (tự chế) và 02 (hai) hộp giấy màu cam, nắp đen (3cm x 7cm x 12cm).
3.2 Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- + 01 (một) điện thoại di động Iphone XS Max màu trắng, bị bể lưng, số imei 1: 357265092611043, imei 2: 357265092784873; không kiểm tra tình trạng hoạt động;
- + 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Pro Max màu trắng, số imei 1: 356714113618751, imei 2: 356714114302736; không kiểm tra tình trạng hoạt động.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 12 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương)
3.3 Buộc bị cáo Đoàn Văn T nộp số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Đoàn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huỳnh Đức |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
