Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-ST

Ngày: 07/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Minh Khánh.
  2. Ông Lý Đình Đạt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 98/2024/TLST-HS ngày 14/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST- HS ngày 23/01/2025 đối với bị cáo:

  1. Đỗ Đăng T, sinh năm 1993; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở: Tổ dân phố C, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn phổ thông: 9/12; Bố đẻ: Đỗ Đăng N, sinh năm 1967; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị G, sinh năm 1973; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Lê Thị H, sinh năm 1997; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2017;

Tiền án:

  • Bản án số 49/2020/HSST ngày 20/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V) xử phạt Đỗ Đăng T số tiền 25.000.000 đồng về tội đánh bạc; chấp hành xong ngày 23/3/2021.
  • Bản án số 88/2022/HSST ngày 24/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V) xử phạt Đỗ Đăng T 11 tháng tù về tội “đánh bạc”, phạt bổ sung 11.000.000 đồng (Tái phạm). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/7/2023, án phí, tiền phạt ngày 7/9/2022.

- Nhân thân:

  • Ngày 15/6/2021, Công an huyện V (nay là thị xã V) xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Ngày 15/6/2021, Công an huyện V (nay là thị xã V) xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo T: Luật sư Lê Đức T1- Văn phòng L3- Đoàn luật sư tỉnh B. (Có mặt).

Địa chỉ: số nhà B, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

  1. Phạm Thị T2, sinh năm 1997; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi ĐKHKTT: Bản T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở: Thôn A, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn phổ thông: 9/12; Bố đẻ: Phạm Văn H1, sinh năm 1977; Mẹ đẻ: Lê Thị C, sinh năm 1976; Gia đình có 03 chị em; bị cáo là con thứ nhất; Chồng: Phạm Văn C1, sinh năm 1995 (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt).

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Đào Thị Ngọc T3, sinh năm 1991. (Có mặt).
    Địa chỉ: xóm C, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1992. (Vắng mặt).
    Địa chỉ: xóm T, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  3. Anh Diêm Đăng L, sinh năm 1994. (Vắng mặt).
    Địa chỉ: thôn Q, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
  4. Cháu Phạm Thị Minh P, sinh năm 2009. (Vắng mặt).
    Địa chỉ: thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện hợp pháp của cháu P: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1983. (Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

  1. Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1972. (Có mặt)
    Địa chỉ: thôn Đ, xã H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
  2. Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1977. (Vắng mặt)
    Nơi đăng ký thường trú: CT2A, khu đô thị V, Y, P, H, thành phố Hà Nội.
    Nơi ở hiện nay: TT C, khu đô thị V, Y, P, H, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 00 phút ngày 31/7/2024, tổ công tác thuộc phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an xã Đ, huyện H tuần tra, kiểm soát phát hiện Phạm Thị T2, sinh năm 1997 trú tại bản Trại Hạ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đang đứng ở phía trước cửa khu nhà trọ của ông Nguyễn Đức L1, sinh năm 1960 tại xóm B, thôn A, xã Đ, huyện H có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Kết quả kiểm tra đã thu giữ của T2 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong đựng 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01(một) gói nilon màu trắng bên trong chứa 02 (hai) viên nén màu xám hình lục giác nghi là chất ma tuý. T2 khai nhận chất tinh thể màu trắng và 02 viên nén trên là ma tuý T2 mang theo để sử dụng. Ngoài ra, T2 còn tự giác lấy ở dưới đệm trong phòng trọ 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ bên trong đựng chất tinh thể màu trắng và khai nhận là chất ma tuý giao nộp cho tổ công tác.

Tổ công tác tiến hành niêm phong tại chỗ vật chứng nghi ma túy vào phong bì thư ký hiệu “QT T2” và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T2. Tạm giữ của T2 01 điện thoại Iphone 12 Promax và 01 điện thoại Iphone 8 Plus (BL: 67-69). Tiến hành test nhanh, T2 âm tính với chất ma túy (BL: 268).

Tiến hành khám xét khẩn cấp phòng trọ của T2 thu giữ 01 (một) căn cước công dân mang tên Phạm Thị T2 (BL: 70);

Phạm Thị T2 khai mua ma túy của Đỗ Đăng T, sinh năm 1993, trú tại thôn Đ, xã H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; hiện đang thuê trọ tại tổ dân phố C, phường T, thị xã V. Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp phòng trọ của Đỗ Đăng T thì phát hiện T đang đứng ở ngoài đường Quốc lộ 37 và vứt 01 túi nilon màu trắng, có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ (bên trong đựng 02 viên nén màu ghi) và 01 túi nilon màu trắng, có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ (bên trong đựng chất tinh thể màu trắng); T đã tự giác nhặt 02 (hai) túi nilon trên giao nộp cho Cơ quan điều tra, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KX1”. Trong phòng trọ của T có Đào Thị Ngọc T3, sinh năm 1991 và Nguyễn Thị T4, sinh năm 1992 đều trú tại xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả khám xét, phát hiện trên mặt bàn bếp 01 túi nilon màu trắng, có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ bên trong đựng 51 (năm mươi mốt) viên nén màu ghi; 01 túi nilon màu trắng, có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ bên trong đựng 06 (sáu) túi nilon màu trắng, có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong mỗi túi đều đựng chất tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nilon màu trắng, có rãnh khóa nhựa, viền màu trắng bên trong đựng 04 (bốn) túi nilon màu trắng, có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong mỗi túi đều đựng chất tinh thể màu trắng.

Cơ quan điều tra đã thu giữ, niêm phong số vật chứng nghi ma tuý trên vào phong bì thư ký hiệu “KX2”.

Ngoài ra, còn thu giữ 01 xe ô tô nhãn hiệu DAEWOO, biển kiểm soát (BKS) 30X-0050, kiểm tra bên trong xe có số tiền 34.500.000 đồng; 01 đăng ký xe ô tô BKS 30X-0050 mang tên Nguyễn Văn N1, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô BKS 30X-0050, 01 giấy phép lái xe ô tô, 01 căn cước công dân, 01 giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù đều mang tên Đỗ Đăng T; 01 cân điện tử; 01 đoạn ống hút màu trắng, một đầu được hàn kín một đầu được cắt chéo; 01 điện thoại Iphone 14 Promax; 01 điện thoại Iphone XSMax; 10 túi nilon màu trắng, có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ; 02 thẻ nhớ một mặt có chữ SanDisk Ultra32 GB, Cơ quan điều tra tiến hành niêm phong 02 thẻ nhớ thu giữ vào phong bì thư ký hiệu “KX3” (BL: 72-73).

Tiến hành test nhanh ma túy đối với T, T3 và T4, kết quả: Thạch, T3 và T4 đều dương tính với chất ma túy Ketamine (BL: 267; 269; 270).

Đỗ Đăng T khai mua ma túy của Diêm Đăng L, sinh năm 1994 trú tại thôn Q, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Ngày 02/8/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của L nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án (BL: 74-75).

Tại kết luận giám định số 1715/KL-KTHS ngày 06/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT Thủy” được niêm phong gửi giám định:
  • - Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,176 gam.

  • Trong 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu “Thăng Long”, bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ:
    • Chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 1,532gam.
    • 02 (hai) viên nén màu ghi xám đựng trong 01 túi nilon màu trắng đều là ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 1,005gam.
  • Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX1” được niêm phong gửi giám định:
    • Trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ:
      • 02 (hai) viên nén màu ghi xám đều là ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 1,036gam.
      • Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,945gam.
  • Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX2” được niêm phong gửi giám định:
    • 51 (năm mươi mốt) viên nén màu ghi xám đựng trong 01(một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ đều là ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 24,271gam.
    • Chất tinh thể màu trắng đựng trong 06 (sáu) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa (bên ngoài là 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ) là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 26,576gam.
    • Chất tinh thể màu trắng đựng trong 04 (bốn) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ (bên ngoài là 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu trắng) là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 3,676gam (BL: 63-64).

Quá trình điều tra, Đỗ Đăng T và Phạm Thị T2 khai nhận về diễn biến hành vi phạm tội như sau: Do bản thân có sử dụng ma túy nên Đỗ Đăng T đã nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời. T khai do quen biết Diêm Đăng L, sinh năm 1994 trú tại thôn Q, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và biết L có bán ma túy nên T đã mua của L các túi ma túy Ketamine và các viên ma túy kẹo về chia nhỏ rồi cất giấu tại phòng trọ của T tại tổ dân phố C, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để bán. T đã 02 lần bán ma túy cho Phạm Thị T2, cụ thể:

Trước ngày bị bắt khoảng 5 ngày, T đang ở phòng trọ thì Phạm Thị T2 gọi điện cho T qua ứng dụng telegram hỏi mua 10 viên ma túy kẹo để sử dụng, T đồng ý bán với giá 270.000 đồng/ viên. Khoảng 30 phút sau khi T2 gọi điện, T điều khiển xe ô tô BKS 30X-0050 mang ma túy kẹo đến phòng trọ của T2 tại xóm B, thôn A, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang để giao cho T2, T2 nhận ma túy của T và trả trước cho T 1.000.000 đồng tiền mặt, còn nợ lại 1.700.000 đồng.

Đến chiều ngày 29/7/2024, T đang ở phòng trọ thì Phạm Thị T2 gọi điện cho T qua ứng dụng telegram hỏi mua ¼ uốn (khoảng 06 gam) ma túy Ketamine để sử dụng, T đồng ý bán với giá 5.000.000 đồng. Khoảng 30 phút sau, T điều khiển xe ô tô BKS 30X-0050 mang ma túy Ketamine được đựng trong túi nilon màu trắng, có rãnh khóa nhựa đến phòng trọ giao cho T2, T2 nhận ma túy của T rồi chuyển khoản cho T số tiền 2.700.000 đồng, còn nợ 4.000.000 đồng. Đến ngày 30/7/2024, T2 đã chuyển khoản nốt số tiền 4.000.000 đồng (BL: 170-171; 183; 185).

Khoảng 15 giờ ngày 30/7/2024, T gọi điện cho L qua ứng dụng telegram hỏi mua 50 gam ma túy Ketamine, L đồng ý bán với giá 24.000.000 đồng và hẹn giao dịch tại nhà trọ của T. Cùng ngày, L mang 01 túi nilon màu trắng bên trong đựng ma túy Ketamine đến phòng trọ đưa cho T. T nhận ma tuý đem về phòng trọ chia ra các túi nilon nhỏ cất giấu trên mặt bàn bếp mục đích để bán.

Đến khoảng 13 giờ ngày 31/7/2024, T tiếp tục gọi điện cho L qua ứng dụng telagram hỏi mua 50 viên ma túy kẹo, L đồng ý bán với giá 180.000 đồng/viên (tương ứng 9.000.000 đồng). L đựng ma tuý trong túi nilon màu trắng đem đến khu vực đường liên thôn Đ, xã H, thị xã V giao cho T. Thạch mang số ma túy kẹo mua của L về cất giấu trên mặt bàn bếp phòng trọ cùng với số ma túy Ketamine mua của L trước đó. Cả 02 lần mua ma túy của L, T khai đều chưa trả tiền (BL: 166).

Khoảng 15 giờ cùng ngày, có người sử dụng số điện thoại 0904.252.xxx gọi cho T hỏi mua 02 viên ma túy kẹo và 01 chỉ (01 gam) ma túy Ketamine, T đồng ý bán với giá 1.600.000 đồng và hẹn giao dịch trước cửa phòng trọ của T. Sau đó, T vào bếp lấy 02 viên ma túy kẹo đựng trong 01 túi nilon màu trắng, có rãnh khóa nhựa và 01 chỉ ma túy Ketamine đựng trong 01 túi nilon màu trắng, có rãnh khóa nhựa mang ra khu vực cửa cạnh đường Q để bán thì bị lực lượng Công an đến khám xét, phát hiện, thu giữ (BL: 161; 169).

Đối với Phạm Thị T2, sau khi mua được ma túy của T, T2 khai đã sử dụng hết một phần, một phần bỏ đi còn lại khoảng 1,5 chỉ (khoảng 1,5 gam) ma túy Ketamine và 02 viên ma túy kẹo cất giấu dưới đệm giường phòng trọ. Đến chiều ngày 31/7/2024, T2 lấy 01 chỉ ma túy Ketamine và 02 viên ma túy kẹo cho vào vỏ bao thuốc lá Thăng L2 mang đi sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Kết quả sao kê tài khoản của Đỗ Đăng T số 5260199399999 mở tại Ngân hàng TMCP Q và tài khoản của Phạm Thị T2 số 0336701052 mở tại ngân hàng TMCP Q xác định: Ngày 29/7/2024, tài khoản Ngân hàng của T2 chuyển đến tài khoản Ngân hàng của T số tiền 2.700.000 đồng; ngày 30/7/2024 tài khoản Ngân hàng của T2 chuyển đến tài khoản Ngân hàng của T số tiền 4.000.000 đồng, phù hợp với lời khai của T và T2 (BL: 228).

Về nguồn gốc ma tuý, T khai mua của Diêm Đăng L. Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra 02 thẻ nhớ (SanDisk Ultra32 GB) thu giữ tại nhà trọ của T phát hiện lúc 15 giờ 54 phút và 16 giờ 24 phút ngày 30/7/2024 L có đến nhà trọ của T. Tuy nhiên, L khai đến chơi với T, không thừa nhận bán ma túy cho T. Tiến hành cho T và L đối chất nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của T không có chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ kết luận L bán ma tuý cho T (BL: 80-83; 294-295).

Đối với người sử dụng số thuê bao 0904252883 liên hệ mua ma túy của Thạch ngày 31/7/2024, kết quả xác minh chủ thuê bao là Phạm Thị Minh P, sinh năm 2009 trú tại thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Chị P khai không đăng ký, không sử dụng số thuê bao điện thoại trên và không liên hệ mua ma túy của T, do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Đối với Đào Thị Ngọc T3 và Nguyễn Thị T4 có mặt tại nhà trọ của T khi khám xét; kết quả điều tra xác định T3 và T4 không liên quan đến hành vi mua bán ma túy của T. Tuy nhiên, xác định T3, T4 và T đều dương tính với chất ma túy Ketamine, do vậy Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T3, T4 và T về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Về vật chứng, tài sản thu giữ:

Đối với xe ô tô nhãn hiệu DAEWOO, biển kiểm soát (BKS) 30X-0050, T sử dụng làm phương tiện đi bán ma túy, kết quả điều tra xác định chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1972 là mẹ đẻ của T. Bà G cho T mượn xe nhưng không biết T sử dụng làm phương tiện phạm tội. Ngày 17/10/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bà G chiếc xe ô tô trên kèm theo đăng ký và giấy chứng nhận kiểm định (BL: 343-344).

Những đồ vật, tài sản gồm: 01 điện thoại Iphone 12 Promax, 01 điện thoại Iphone 8 Plus và 01 căn cước công dân mang tên Phạm Thị T2 của T2; số tiền 34.500.000 đồng, 01 giấy phép lái xe ô tô, 01 căn cước công dân, 01 cân điện tử, 01 đoạn ống hút màu trắng, một đầu được hàn kín một đầu được cắt chéo, 01 điện thoại Iphone 14 Promax; 01 điện thoại Iphone XSMax; 10 túi nilon màu trắng, có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ; 02 thẻ nhớ một mặt có chữ SanDisk Ultra32 GB và toàn bộ số vật chứng là ma tuý được hoàn lại sau giám định, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo quy định.

Bản cáo trạng số 38/CT-VKSBG-P1 ngày 13/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Đỗ Đăng Thạch, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm h, khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Phạm Thị T2, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án, các bị cáo cũng thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cáo trạng truy tố các bị cáo như vậy là đúng, không oan.

Bị cáo T trình bày: bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi của mình xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo T2 trình bày: Bị cáo có hành vi mua bán ma tuý của T 02 lần, mục đích để sử dụng. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Qua thẩm vấn tại phiên toà, kiểm sát viên phát biểu lời luận tội giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo Đỗ Đăng T, Phạm Thị T2. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về trách nhiệm hình sự:
    1. Căn cứ điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Đăng T.
    2. Xử phạt bị cáo Đỗ Đăng T từ 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng đến 17 (mười bẩy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2024.

      Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung quỹ nhà nước.

      Truy thu buộc bị cáo Đỗ Đăng T phải nộp lại 7.700.000 đồng (bẩy triệu bẩy trăm nghìn đồng) tiền thu lời bất chính.

    3. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Phạm Thị T2.
    4. Xử phạt bị cáo Phạm Thị T2 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Tịch thu tiêu hủy:
      • 01 phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu "QT THỦY", bên trong chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định.
      • 01 phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu "KX1", bên trong chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định.
      • 01 phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu "KX2", bên trong chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định.
      • 01 cân điện tử màu đen
      • 01 đoạn ống hút màu trắng một đầu hàn kín, một đầu cắt vát.
      • 10 túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ.
      • 01 phong bì niêm phong ký hiệu "THẺ NHỚ" bên trong đựng 02 thẻ nhớ một mặt có chữ Sandisk Ultra32GB.
    • Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
      • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, số EMEI: 354860899762396, đã qua sử dụng. (được đựng trong phong bì ký hiệu "ĐIỆN THOẠI THỦY")
      • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, số IMEI: 3522680945000001 đã qua sử dụng. (được đựng trong 01 phong bì niêm phong ký hiệu "ĐT")
    • Trả lại bị cáo Phạm Thị T2:
      • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số EMEI: 352983097688908 đã qua sử dụng, (được đựng trong phong bì ký hiệu "ĐIỆN THOẠI THỦY") nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
      • 01 căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Thị T2.
    • Trả lại bị cáo Đỗ Đăng T:
      • 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Đỗ Đăng T.
      • 01 căn cước công dân số [...] mang tên Đỗ Đăng T.
      • Số tiền 34.500.000 đồng (ba tư triệu năm trăm nghìn đồng) do Công an tỉnh B chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang theo biên lai số 0000204 ngày 06/12/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
      • 01 điện thoại di động nhãn hiệu SXMax, số IMEI: 357300093682568 đã qua sử dụng, (được đựng trong 01 phong bì niêm phong ký hiệu "ĐT"), nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án
  4. Buộc các bị cáo Đỗ Đăng T, Phạm Thị T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
  6. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

  7. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • TAND tối cao;
  • VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • CQCSĐT - Công an tỉnh Bắc Giang;
  • Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • Sở Tư pháp Bắc Giang;
  • Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • Người bào chữa;
  • Bị cáo;
  • Người tham gia tố tụng;
  • Cổng TT điện tử của TAND tối cao;
  • Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong ngày 07/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 98/2024/TLST-HS ngày 14/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST- HS ngày 23/01/2025 đối với bị cáo Đỗ Đăng Thạch và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger