Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỂU CẦN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 07-02-2025

“Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Ân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.

Ông Nguyễn Văn Bé.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Nhi là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần tham gia phiên toà: Ông Thạch I Ran, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 24/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số: 16/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lệ T, sinh năm 1984 (có mặt);

Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng M, sinh năm 1984 (Vắng mặt không có lý do);

Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29/7/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lệ T trình bày có nội dung: Chị T xác lập quan hệ vợ chồng với anh Nguyễn Hoàng M, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh vào ngày 04/5/2010.

Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung cháu Nguyễn Hoàng Minh T1, sinh ngày 27/5/2011. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Nguyễn Hoàng M cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Diện tích đất là 1.260m², thửa số 536, tờ bản đồ số G1631, tọa lạc tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; diện tích đất là 1797m², thửa số 471, tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại Thôn B, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; tài sản này chị không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên nhân mâu thuẫn: Do tính tình không hợp và do anh M thường xuyên uống rượu không lo làm kiếm tiền để nuôi con không quan tâm đến chị và con, nên thường xuyên cự cãi qua lại với nhau dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, gia đình hai bên đã nhiều lần hòa giải hàn gắn nhưng vẫn không hàn gắn được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2024 cho đến nay. Nay chị thấy không còn tình cảm với anh M yêu cầu được ly hôn.

- Bị đơn anh Nguyễn Hoàng M vắng mặt không có lời trình bày.

Đối với bị đơn anh M đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án; triệu tập hợp lệ nhưng anh M không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham dự phiên tòa xét xử, nên Tòa án không lấy lời khai của bị đơn được và bị đơn cũng không nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ gì để phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị T.

Vì vậy Tòa án không kết luận được những vấn đề mà các đương sự đã thống nhất và không thống nhất.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự là vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hòa giải cũng như vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Lệ T được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng M; về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Minh T1, sinh ngày 27/5/2011 cho chị Nguyễn Thị Lệ T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu T1 muốn sống chung với chị T; về tài sản chung: Không tranh chấp và nợ chung không có yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Hoàng M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên Tòa án xét xử vắng bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị T xác lập quan hệ hôn nhân với anh M và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh vào ngày 04/5/2010 đúng theo quy định của pháp luật, cho nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.
  3. Theo chị T trình bày thì trong thời gian sinh sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp và do anh M thường xuyên uống rượu không lo làm kiếm tiền để nuôi con không quan tâm đến chị và con, nên thường xuyên cự cải qua lại với nhau dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, gia đình hai bên đã nhiều lần hòa giải hàn gắn nhưng vẫn không hàn gắn được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2024 cho đến nay mỗi người sống một nơi mạnh ai nấy sống không ai quan tâm đến ai chị sinh sống tại tỉnh Lâm Đồng còn anh M về tỉnh Trà Vinh sinh sống và hiện tại anh M đang đi làm thuê tại Thành H. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh M đến giải quyết vụ án nhưng anh cố tình vắng mặt không có lý do, đáng lẽ ra anh muốn hàn gắn tình cảm với chị T thì khi Tòa án triệu tập thì anh phải có mặt để trình bày nguyện vọng của mình để Tòa án xem xét, nhưng ngược lại anh bỏ mặc, không quan tâm đến việc giải quyết vụ án thể hiện ý chí của anh xem thường, không chấp hành yêu cầu của Tòa án cũng như không quan tâm đến việc hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này với chị T. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị T yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  4. Về con chung: Cháu Nguyễn Hoàng Minh T1, sinh ngày 27/5/2011, hiện do chị T đang nuôi dưỡng được phát triển đầy đủ về mọi mặt, cháu T1 có nguyện vọng sống chung với chị T. Để đảm bảo cháu được tiếp tục phát triển về mọi mặt và cũng không làm xáo trộn cuộc sống của cháu T1, Hội đồng xét xử nghĩ nên giao cho chị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với nguyện vọng của cháu T1.
  5. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  6. Về tài sản chung: Chị T khai vợ chồng có diện tích đất là 1.260m², thửa số 536, tờ bản đồ số G1631, tọa lạc tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; diện tích đất là 1797m², thửa số 471, tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại Thôn B, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng nhưng chị không yêu cầu giải quyết chia tài sản trong vụ án này, đối với anh M thì không có ý kiến gì phản đối, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  7. Về nợ chung: Chị T khai không có, đối với anh M thì không có ý kiến gì phản đối, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  8. Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
  9. Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lệ T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Lệ T được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng M.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Minh T1, sinh ngày 27/5/2011 cho chị Nguyễn Thị Lệ T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, là phù hợp với nguyện vọng của cháu T1.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Lệ T không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  2. Về tài sản chung: Không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  3. Về nợ chung: Không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Lệ T phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006271, ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần; chị T đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai để xin xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - Chi cục THADS huyện Tiểu Cần;
  • - Ủy ban nhân dân xã T
  • (chứng nhận kết hôn ngày 04/5/2010);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Hoàng Ân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Lệ Thu khởi kiện ly hôn với anh Nguyễn Hoàng Minh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger