|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST Ngày: 03-02-2025 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Trí Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung và ông Nguyễn Thành Phước.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 369/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Lệ T, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang;
- Bị đơn: Ông Trần Văn P, sinh năm 1966;
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Trần Thị Lệ T trình bày: Bà và ông Trần Văn P do tự tìm hiểu rồi chung sống với nhau từ năm 1987, có tổ chức đám cưới, có đăng ký hết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên đến năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, ông Trần Văn P có mối quan hệ với người phụ nữ khác. Mặc dù, vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng vẫn không thay đổi. Nay, bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Bà Trần Thị Lệ T yêu cầu được ly hôn ông Trần Văn P;
Về con chung: Có một con chung tên Trần Huy H, sinh ngày 11/01/1990 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết;
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Theo Biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Trần Văn P trình bày:
Về quá trình hôn nhân ông thống nhất với trình bày của bà Trần Thị Lệ T. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Lệ T thì ông có ý kiến như sau:
Về hôn nhân: Ông Trần Văn P không đồng ý ly hôn bà Trần Thị Lệ T vì còn thương vợ con. Mâu thuẫn phát sinh cũng do lỗi của ông nhưng ông mong muốn hàn gắn để có cơ hội lo cho vợ con.
Về con chung: Có một con chung tên Trần Huy H, sinh ngày 11/01/1990 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết;
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Trần Thị Lệ T trình bày: Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn P; về con chung: Có một con chung tên Trần Huy H, sinh ngày 11/01/1990 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trần Văn P trình bày: Ông không đồng ý ly hôn với bà Trần Thị Lệ T. Trường hợp bà T cương quyết ly hôn thì ông đồng ý; về con chung: Có một con chung tên Trần Huy H, sinh ngày 11/01/1990 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Lệ T
Về hôn nhân: Bà Trần Thị Lệ T được ly hôn với ông Trần Văn P.
Về con chung: Có một con chung tên Trần Huy H, sinh ngày 11/01/1990 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Trần Thị Lệ T và ông Trần Văn P chung sống với nhau có đăng ký kết hôn (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16 do Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang cấp ngày 24/01/1991). Ông Trần Văn P có địa chỉ thường trú tại: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bà Trần Thị Lệ T khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Trần Văn P nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn”.
[2] Xét việc tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Trần Thị Lệ T và ông Trần Văn P xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 24/01/1991 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Bà Trần Thị Lệ T cho rằng mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ việc ông Trần Văn P có mối quan hệ với người phụ nữ khác. Quá trình giải quyết vụ án, ông P thừa nhận mâu thuẫn phát sinh cũng do lỗi của ông P nhưng ông P vẫn còn thương vợ con nên mong muốn được hàn gắn.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Trần Thị Lệ T và ông Trần Văn P xuất phát từ việc ông P có mối quan hệ với người phụ nữ khác. Ông P mong muốn hàn gắn nhưng bà T cương quyết ly hôn cho thấy hôn nhân giữa ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng.
Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trần Thị Lệ T được ly hôn với ông Trần Văn P.
[2.2] Về con chung:
Bà Trần Thị Lệ T và ông Trần Văn P thống nhất có một con chung là Trần Huy H, sinh ngày 11/01/1990 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung:
Bà Trần Thị Lệ T và ông Trần Văn P thống nhất không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ chung:
Bà Trần Thị Lệ T và ông Trần Văn P thống nhất không có nợ chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Như các phân tích nêu trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Lệ T.
- Về hôn nhân: Bà Trần Thị Lệ T được ly hôn với ông Trần Văn P.
- Về con chung: Ghi nhận bà Trần Thị Lệ T và ông Trần Văn P thống nhất có một con chung là Trần Huy H, sinh ngày 11/01/1990 đã trưởng thành.
- Về quan hệ tài sản:
- Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Bà Trần Thị Lệ T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011587 ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn. Bà Trần Thị Lệ T đã nộp đủ. Ông Trần Văn P không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Trí Nguyên |
Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 03/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình: ly hôn
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Lệ Thủy được ly hôn với ông Trần Văn Phi
