Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM ĐẢO

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/DS - ST

Ngày 29 tháng 8 năm 2024

“V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO- TỈNH VĨNH PHÚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Quý

Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chuyên

Ông Tạ Văn Trần

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Huyền- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 09/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Văn H: Ông Trần Văn L, sinh năm 1961; chị Phùng Thị Thu T, sinh năm 2000; địa chỉ: Số C đường N, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo giấy ủy quyền ngày 04/01/2024, ông L có mặt.

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn S: Bà Đào Thị L1, sinh năm 1961; Tổ dân phố T, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 19/7/2024, bà L1 có mặt.

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

    1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

    2. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 2002; địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có đơn xin xét xử vắng mặt.

    3. Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có đơn xin xét xử vắng mặt.

    4. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1954; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có đơn xin xét xử vắng mặt.

    5. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

    6. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.

    7. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có đơn xin xét xử vắng mặt.

    8. Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Trần Văn L trình bày:

Ông bà nội anh H là cụ Nguyễn Văn L2 (sinh năm 1931, chết năm 1980) và cụ Lê Thị T5 (sinh năm 1920, chết năm 2020). Sau khi cụ L2 chết, cụ Lê Thị T5 có tạo dựng được khối tài sản riêng là diện tích đất 456m² (trong đó 400m² đất ở, 56m² đất vườn) tờ bản đồ số 15, số thửa 122. Đất tại thôn S, xã H. Thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D0027437, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 247/QSDĐ/572/QĐ-UBND do UBND huyện T cấp ngày 29/11/1993.

Ngày 07/8/2012 và ngày 02/01/2013 cụ Lê Thị T5 lập di chúc, định đoạt, phân chia khối tài sản được trưởng thôn ông Trịnh Văn Q1 chứng kiến và UBND xã H (nay là thị trấn H) chứng thực; di chúc cho 03 người tài sản như sau:

Con trai Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966 được hưởng di chúc 120,6m² trong đó 110m² đất ở, 10.6m² đất vườn tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D0027437, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 247/QSDĐ/572/QĐ-UBND do UBND huyện T cấp ngày 29/11/1993 tờ bản đồ số 15, số thửa 122. Đất tại thôn S, xã H.

Cháu nội Nguyễn Văn H, sinh năm 1994 được hưởng di chúc 169,2m² trong đó 150m² đất ở và 19.2m² đất vườn tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D0027437, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 247/QSDĐ/572/QĐ-UBND do UBND huyện T cấp ngày 29/11/1993 tờ bản đồ số 15, số thửa 122. Đất tại thôn S, xã H.

Cháu nội Nguyễn Văn Q, sinh năm 2002 (đang được ông Nguyễn Văn T3 và bà Diệp Thị T6 là bố mẹ đẻ trực tiếp nuôi dưỡng và là người giám hộ) được hưởng di chúc 166,2m² trong đó đất ở 140m² đất vườn 26.2m² tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D0027437, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 247/QSDĐ/572/QĐ-UBND do UBND huyện T cấp ngày 29/11/1993 tờ bản đồ số 15, số thửa 122. Đất tại thôn S, xã H.

Di chúc được lập khi cụ Lê Thị T5 hoàn toàn khỏe mạnh và minh mẫn, không bị ép buộc hay xúi giục. Đồng thời di chúc đã được lập thành văn bản, có người làm chứng. Di chúc ngày 02/01/2013 được chứng thực tại UBND xã H ngày 08/01/2013.

Anh H nhất trí với di chúc của cụ T5 đã cho và đồng ý nhận tài sản theo di chúc của cụ. Hiện nay anh Q đã trên 18 tuổi và đồng ý nhận toàn bộ tài sản của cụ T5 đã di chúc. Ông T1 đã xây dựng nhà cấp 4 ở trên đất từ năm 2005 cho đến nay, không có ai thắc mắc gì, nhất trí với di chúc của cụ T5.

Sau khi cụ T5 chết di chúc được mở và có hiệu lực. Anh H đã yêu cầu được hưởng thừa kế theo di chúc, những người được hưởng thừa kế đã tiến hành mở thừa kế và phân chia tài sản theo di chúc của cụ T5. Tháng 10 năm 2020 anh H sửa chữa và làm nhà trên 01 phần đất tiếp giáp với nhà ông T1. Ông Nguyễn Văn S (bác ruột anh H) đã giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đồng ý, không thực hiện những thủ tục cần thiết và không tạo điều kiện cho ông T1, anh H, anh Q thực hiện quyền lợi hợp pháp của mình. Anh H yêu cầu ông Nguyễn Văn S giao trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu phân chia lại khối tài sản nêu trên nhưng ông S không đồng ý, hai bên đã xảy ra tranh chấp. Do vậy anh H khởi kiện đề nghị Tòa án: Công nhận Di chúc được lập ngày 07/08/2012 và ngày 02/01/2013, được chứng thực tại UBND xã H ngày 08/01/2013 của cụ Lê Thị T5 là hợp pháp và đề nghị phân chia di sản thừa kế theo di chúc. Anh đề nghị được giao diện tích đất được cụ T5 đã di chúc cho ba người là ông T1, anh Q và anh H theo hiện trạng đang sử dụng.

* Tại bản tự khai ngày 13/3/2024 bị đơn ông Nguyễn Văn S trình bày: Ông thống nhất về nguồn gốc đất là di sản thừa kế của cụ Lê Thị T5; cụ Lê Thị T5 mẹ ông đã lập di chúc cho anh H, ông T1, anh Q mỗi người một phần theo di chúc nhưng ông không nhất trí với di chúc vì di chúc không được thông qua cho 06 con biết và di chúc không đúng, việc phân chia không công bằng, không được ai chứng kiến. Ông đề nghị Tòa án giải quyết chia tài sản thừa kế cho 06 người con của cụ T5.

* Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn S là bà Đào Thị L1 trình bày: Nhất trí với bản tự khai của ông S đã khai. Không đồng ý với yêu cầu công nhận di chúc của cụ T5 là hợp pháp bởi các lý do: Cụ T5 không hề biết chữ, việc lập di chúc không thông qua các con đẻ của cụ, không có con nào được chứng kiến và không có chữ ký của những người con nên di chúc không hợp pháp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cụ T5 giao cho vợ chồng bà quản lý nên không có việc cụ viết di chúc cho anh H và anh Q. Phần đất cụ T5 đã cho ông T3 là bố anh H và anh Q đã bán cho người khác. Anh H khởi kiện là dựa vào văn bản cụ T5 cho đất ông T1 chứ không phải là cụ T5 cho đất anh H và anh Q. Bà không nhất trí với di chúc và đề nghị Tòa án chia thừa kế cho 06 người con của cụ T5 theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị M và Nguyễn Thị S2, ông Nguyễn Văn T3 thống nhất trình bày:

Ngày 07/8/2012 và ngày 02/01/2013 cụ Lê Thị T5 (mẹ của các ông bà) đã lập di chúc được UBND xã H (nay là thị trấn H) chứng thực và được trưởng thôn ông Trịnh Văn Q1 chứng kiến. Nội dung của di chúc, tài sản thừa kế cho ba người là cháu H, cháu Q1 và ông T1. Di chúc được lập khi cụ Lê Thị T5 hoàn toàn khỏe mạnh và minh mẫn, không bị ép buộc hay xúi giục. Ông, bà là con đẻ hoàn toàn nhất trí với di chúc của cụ T5. Hiện trạng ông T1 đã làm nhà tầng cấp 4 trên đất của cụ T5 và ở từ năm 2005, không có ai có ý kiến gì. Sau khi cụ T5 chết, năm 2020 cháu H làm nhà và hiện tại đang sinh sống trên thửa đất đó. Phần đất còn lại cho cháu Q1 hiện đang để trống, trên đất không có tài sản gì. Ý kiến của các ông, bà nhất trí toàn bộ với di chúc của cụ T5 đã phân chia. Đề nghị tòa án giải quyết vắng mặt vì không có bất cứ yêu cầu gì đối với thửa đất của cụ T5 đã di chúc cho con, cho cháu.

Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1: Thống nhất nội dung di chúc của cụ Lê Thị T5 đã lập. Ngoài di chúc của anh H giữ, quản lý và giao nộp cho Tòa án khi khởi kiện ông còn giữ 01 bản di chúc được lập ngày 02/01/2013, được chứng thực tại UBND xã H ngày 08/01/2013. Nội dung của hai bản di chúc là giống nhau đều thể hiện việc cụ T5 thừa kế thửa đất số 122, tờ bản đồ số 15, diện tích 456m² tại tổ dân phố S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc cho ba người là ông, anh H và anh Q1 được hưởng di chúc, ông hoàn toàn nhất trí với nội dung của hai bản di chúc. Ông đề nghị Tòa án công nhận di chúc là hợp pháp và đề nghị công nhận di chúc phần đất của ông được hưởng là 120,6m² trong đó 110m² đất ở, 10.6m² đất vườn tại tờ bản đồ số 15, số thửa 122 tại thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, nay là tổ dân phố S, thị trấn H. Phần đất di chúc ông đã làm nhà từ năm 2005 để ở khi mẹ ông là cụ T5 còn sống, không có ai có ý kiến gì năm 2012, 2013 thì cụ T5 lập di chúc thể hiện việc cho đất trong đó có cho cả cháu H và cháu Q1.

Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Q: Nhất trí nội dung di chúc cụ Lê Thị T5 để lại tài sản cho anh, đề nghị Tòa án công nhận di chúc của cụ T5 thừa kế tài sản thửa đất số 122, tờ bản đồ số 15, diện tích 456m² tại tổ dân phố S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Nay anh đã thành niên nhất trí với di chúc và đồng ý nhận tài sản thừa kế của cụ Lê Thị T5. Đề nghị công nhận di chúc là hợp pháp và đề nghị công nhận di chúc phần đất của anh được hưởng di chúc 166,2m² trong đó 140m² đất ở, 26.2m² đất vườn tại theo bản đồ số 15, số thửa 122. Đất tại thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, nay là tổ dân phố S, thị trấn H.

Lời khai anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị T4 là con của ông Nguyễn Văn T1 trình bày. Hiện anh chị đang được ông T1 cho ở trên phần đất, nhà của ông T1 và không có cải tạo sửa chữa gì đối với thửa đất trên. Anh, chị không có ý kiến gì với việc tranh chấp đất đai vì không phải là hàng thừa kế của cụ T5. Việc giải quyết tranh chấp đất đai do ông T1 thực hiện, anh, chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Lời khai của người làm chứng là ông Trịnh Xuân Q2: Ông là trưởng thôn Sơn Long từ năm 2011 đến năm 2019 thì nghỉ hưu, ông có làm chứng việc cụ Lê Thị T5 để lại di chúc 02 lần là đúng sự thật và có ký vào cả hai di chúc là người làm chứng (trưởng thôn). Di chúc năm 2013 của cụ T5 đã được UBND xã chứng thực tại UBND xã H ngày 08/01/2013 là đúng.

Tại phiên tòa: Anh Nguyễn Văn H nhất trí với toàn bộ trình bày của ông Trần Văn L. Khi còn sống cụ T5 đã di chúc tài sản là quyền sử dụng đất cho anh, nhà cũ của cụ T5 anh đã sửa chữa và xây mới trên diện tích đất cũ của cụ. Ông T1 làm ở từ năm 2005 đến nay không ai có ý kiến gì, phần đất trống còn lại anh đề nghị Tòa án công nhận cho anh Q2. Anh đề nghị Tòa án công nhận di chúc của cụ Lê Thị T5 ngày 02/01/2013, được chứng thực tại UBND xã H ngày 08/01/2013 là hợp pháp và đề nghị công nhận phần diện tích đất hiện trạng đang sử dụng cho từng người.

Ông Nguyễn Văn T2 trình bày tại phiên tòa: Ông không nhất trí với di chúc, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án là tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H, xác định di chúc của cụ Lê Thị T5 là hợp pháp và giao cho anh Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Văn Q, ông Nguyễn Văn T1 được hưởng di chúc của cụ Lê Thị T5 được quyền sở hữu nhà và đất theo nội dung của di chúc và theo hiện trạng sử dụng. Đề nghị tính án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp trong vụ án: Được xác định là tranh chấp dân sự về thừa kế tài sản theo quy định tại điểm điểm a khoản 5 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

  2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Di sản thừa kế là quyền sử dụng đất ở tại thôn S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; vụ án có đối tượng tranh chấp là bất động sản, quyền sử dụng đất; nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng trên địa bàn thị trấn H, huyện T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

  3. Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị S2, ông Nguyễn Văn T3, anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Văn H1, chị Nguyễn Thị T4 đều vắng mặt: Xét quá trình giải quyết vụ án bà M, bà S2, ông T3, anh Q, anh H1, chị T4 đều có yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

  4. Về nội dung tranh chấp:

    Căn cứ đơn khởi kiện, lời khai của các đương sự, tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định:

    Cụ Lê Thị T5 có thửa đất số 122, tờ bản đồ số 15, diện tích 456 m². Ngày 07/8/2012 và ngày 02/01/2013 cụ Lê Thị T5 đã lập di chúc.Về hình thức, nội dung của cả hai bản di chúc là trùng khớp nhau về nội dung, được lập thành văn bản có sự chứng kiến của trưởng thôn là ông Trịnh Xuân Q2. Di chúc ngày 02/01/2013 được UBND xã H (nay là thị trấn H) do chủ tịch xã H ông Đào Xuân Đ ký chứng thực ngày 08/01/2013.

    Anh H khởi kiện vụ án tranh chấp vì lý do ông Nguyễn Văn S (bác ruột anh H) đã giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đồng ý, không thực hiện những thủ tục cần thiết và không tạo điều kiện cho ông T1, anh H, anh Q2 thực hiện quyền lợi hợp pháp theo di chúc của cụ Lê Thị T5.

  5. Xét yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H về việc yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp, đề nghị Tòa án công nhận nội dung của di chúc và chia tài sản cho ba người thừa kế của Bản di chúc, Tòa án nhận định:

    1. Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 29/9/2020 cụ Lê Thị T5 chết; thời điểm có hiệu lực của di chúc được xác định vào ngày 29/9/2020. Ngày 24/02/2023 anh Nguyễn Văn H khởi kiện, căn cứ Điều Điều 623 Bộ luật dân sự 2015 vụ án vẫn trong thời hiệu khởi kiện.

    2. Về tính hợp pháp của di chúc: Xét di chúc được lập vào ngày 7/8/2012 và ngày 02/01/2013, cụ Lê Thị T5 về hình thức, nội dung của cả hai bản di chúc là trùng khớp nhau về nội dung, được lập thành văn bản có sự chứng kiến của trưởng thôn là ông Trịnh Xuân Q2. Di chúc ngày 02/01/2013 được UBND xã H (nay là thị trấn H) công chứng, chứng thực. Do vậy anh H xác định đây là di chúc đề nghị Tòa án công nhận là hợp pháp. Căn cứ Điều 630, 631 của Bộ luật dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử thấy rằng, nội dung và hình thức của bản di chúc do cụ Lê Thị T5 lập hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật; di chúc được thành văn bản có được chứng thực tại UBND xã H, nay là thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại Điều 658 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 636 của Bộ luật dân sự năm 2015; tại thời điểm cụ T5 lập di chúc không có ai thuộc diện người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định tại Điều 669 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 644 Bộ luật dân sự năm 2015; ngoài bản di chúc này thì không còn bản di chúc nào khác thay thế. Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều thừa nhận cụ Lê Thị T5 có để lại di chúc; người có quyền lợi liên quan là anh Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị S2, ông Nguyễn Văn T3 đều thống nhất với nội dung của bản di chúc và đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế theo di chúc cho anh H, anh Q và ông T1; ông S là người đang quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ T5, không nhất trí với nội dung của di chúc vì lý do: Ông nhất trí phần diện tích đất cụ T5 đã chia cho ông T1 làm nhà, ông T1 tiếp tục được hưởng. Không nhất trí chia tài sản thừa kế cho cháu nội là anh Q và anh H. Ông S, ông T2 đề nghị được chia thừa kế tài sản của cụ T5 theo quy định của pháp luật.

      Theo quy định tại Điều 609 về Quyền thừa kế: Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

      Điều 624. Di chúc:Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

      Điều 625. Người lập di chúc:1. Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.

      Điều 626. Quyền của người lập di chúc

      Người lập di chúc có quyền sau đây:

      1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

      2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

      ...

      Tất cả các hàng thừa kế của cụ Lê Thị T5 đều xác nhận cụ Lê Thị T5 có 06 người con là: Nguyễn Thị M, sinh năm 1954; ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1959; bà Nguyễn Thị S2, sinh năm 1962; ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966; ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1969; ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1972. Những người con trên không có ai bị truất quyền thừa kế, tại thời điểm cụ T5 lập di chúc không có ai thuộc diện người thừa kế được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

      Từ những căn cứ, nhận định trên, Hội đồng xét xử xác định đây là di chúc hợp pháp phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế (tức là từ thời điểm cụ Lê Thị T5 chết vào ngày 29/9/2020).

    3. Về di sản thừa kế: Căn cứ vào nội dung của bản di chúc của cụ Lê Thị T5 lập ngày 01/03/2013 và được UBND xã H chứng thực ngày 08/01/2013 thì tài sản thừa kế theo di chúc là: Thửa đất số 122, tờ bản đồ số 15, diện tích đất 456m² (trong đó 400m² đất ở, 56m² đất vườn). Thửa đất trên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D0027437, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 247/QSDĐ/572/QĐ-UBND do UBND huyện T cấp ngày 29/11/1993.

      Hiện trạng hiện nay: Theo biên bản xem xét thẩm định tài sản tại chỗ, biên bản định giá tài sản, kết quả đo đạc của Công ty cổ phần T7; biên bản xác minh tại UBND thị trấn H thì thửa đất số 122, tờ bản đồ số 15 có diện tích 503,8m². Phần diện tích đất tăng thêm 47,8m2 theo xác minh tại UBND thị trấn H diện tích tăng thêm do đo vẽ qua các thời kỳ, quá trình sử dụng chứ không phải lấn chiếm với bất kì ai.

      Theo kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá UBND huyện T, giá đất ở là 8.000.000đồng/1m², giá đất vườn là 5.500.000đồng/1m².

      Tuy tại thời điểm lập di chúc cụ T5 đã định đoạt cho từng người được hưởng di chúc, từng diện tích đất nhưng không có sơ đồ vị trí của từng thửa đất cụ thể. Nhưng từ năm 2005 ông T1 đã làm nhà cấp 4 trên một phần đất của cụ T5, tại thời điểm đó cụ T5 còn sống, những người con của cụ T5 không ai có ý kiến phản đối gì. Ông T1 ở ngôi nhà tự xây một thời gian dài năm 2018 thì cho con trai Nguyễn Văn H1, con dâu Nguyễn Thị T4 ở và hiện tại anh H1 chị T4 đang sinh sống trên phần đất nhà ông T1 xây dựng, không có sửa chữa, cải tạo gì. Năm 2020 sau khi cụ T5 chết, anh H đã gọi những người được hưởng tài sản thừa kế của cụ T5 để phân chia thửa đất theo di chúc cụ T5 để lại và anh H đã sửa chữa, xây thêm nhà cấp 4, tiếp giáp liền kề phía đông nhà ông T1. Thời điểm anh H xây nhà các con của cụ T5 không có ai có ý kiến gì. Thửa đất trống còn lại mặc nhiên là phần đất của anh Q được hưởng.

      Tại thời điểm cụ T5 lập di chúc (năm 2012, năm 2013) anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 2002, mới được 11 tuổi có ông Nguyễn Văn T3 và bà Diệp Thị T6 là bố mẹ đẻ, trực tiếp là người giám hộ cho anh Q, điều này được thể hiện rõ trong di chúc. Anh H khởi kiện yêu cầu công nhận di chúc, anh Q đã thành niên và có quan điểm nhất trí với nội dung của di chúc, đồng ý nhận tài sản di chúc của cụ T5 và nhất trí nhận phần đất trống chưa có tài sản gì là phần anh được hưởng theo di chúc của cụ T5. Theo biên bản xem xét thẩm định, định giá, hiện trạng thửa đất còn lại anh Q nhận so với di chúc bị thiếu 2.3m². Anh nhất trí nhận phần thiếu, diện tích thiếu so với di chúc không yêu cầu anh H, ông T1 phải trả lại đất hoặc bồi thường chênh lệch. Xét đây là ý kiến tự nguyện của anh Q, hội đồng xét xử ghi nhận chia theo hiện trạng sử dụng.

  6. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H là có căn cứ pháp luật cần được chấp nhận:

    Công nhận di chúc do cụ Lê Thị T5 được lập ngày 02/01/2013 được chứng thực ngày 08/01/2013 tại UBND xã H nay là thị trấn H, huyện T là di chúc hợp pháp và giao từng phần cho từng người theo hiện trạng đang sử dụng cụ thể như sau:

    - Giao cho anh Nguyễn Văn H được quyền sở hữu, sử dụng 202,8m² (trong đó 150m² đất ở, 52,8m² đất vườn) có trị giá là 1.490.400.000đồng.

    - Giao cho anh Nguyễn Văn Q được quyền sở hữu, sử dụng 163,9m² (trong đó 140m² đất ở, 23,9m² đất vườn), có giá trị là 1.251.450.000đồng.

    - Giao cho ông Nguyễn Văn T1 được quyền sở hữu, sử dụng 137,1m² (trong đó 110m² đất ở, 27,1m² đất vườn), có giá trị là 1.029.050.000đồng.

  7. Theo lời khai của nguyên đơn và lời khai của bị đơn, xuất trình tài liệu là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho cụ Lê Thị T5 ông S đang quản lý giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài phần diện tích đất là di sản thừa kế theo di chúc, theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được cấp cụ T5 còn có diện tích đất ruộng hiện do ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn T2 đang quản lý sử dụng từ trước đến nay không phát sinh tranh chấp; xét phần diện tích đất này không liên quan và không thuộc phạm vi giải quyết của vụ án “yêu cầu công nhận di chúc là hợp pháp” bởi trong di chúc không nêu gì đến phần diện tích đất này, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này, nếu phát sinh tranh chấp các bên đương sự có quyền tự thỏa thuận, liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện ra Tòa án để giải quyết theo quy định của pháp luật.

  8. Về chi phí tố tụng khác: Anh H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng xem xét thẩm định giá và định giá tài sản nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

  9. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Q là người khuyết tật, có đơn xin miễn án phí và được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

    Yêu cầu công nhận di chúc là hợp pháp của anh H được chấp nhận ông Nguyễn Văn S phải nộp án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đồng.

    Anh Nguyễn Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch của số tiền 1.490.400.000đồng là 56.712.000đồng.

    Ông Nguyễn Văn T1 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch của số tiền 1.029.050.000đồng là 42.871.500đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các điều 234, 235, 623, 624, 630, 631, 635, 636, 643, 652 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Căn cứ khoản 2 Điều 147, khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H.

  1. Công nhận di chúc cụ Lê Thị T5 lập ngày 01/03/2013 được UBND xã H chứng thực ngày 08/01/2013 là di chúc hợp pháp.

    1. Giao cho anh Nguyễn Văn H được quyền sở hữu, sử dụng 202,8m² (trong đó 150m² đất ở, 52,8m² đất vườn) được giới hạn bởi các điểm 4, 5, 6, 7, 14, 15, 4 (có sơ đồ kèm theo).

    2. Giao cho anh Nguyễn Văn Q được quyền sở hữu, sử dụng 163, 9m² (trong đó 140m² đất ở, 23,9m² đất vườn) được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 15, 1 (có sơ đồ kèm theo).

    3. Giao cho ông Nguyễn Văn T1 được quyền sở hữu, sử dụng 137, 1m² (trong đó 110m² đất ở, 27,1m² đất vườn) được giới hạn bởi các điểm 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 7 (có sơ đồ kèm theo).

    Anh Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Văn Q, ông Nguyễn Văn T1 có quyền và nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xác lập quyền sở hữu, sử dụng đối với nhà và tài sản trên đất của mình.

  2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Q là người khuyết tật, có đơn xin miễn án phí và được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

    Ông Nguyễn Văn S phải nộp án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

    Anh Nguyễn Văn H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 56.712.000đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.000.000đồng (năm triệu đồng) theo biên lai thu số 0001620 ngày 07/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Anh H còn phải nộp tiếp tiền án phí sơ thẩm là 51.712.000đ (Năm mươi mốt triệu, bảy trăm mười hai nghìn đồng)

    Ông Nguyễn Văn T1 phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 42.871.000đ (Bốn mươi hai triệu tám trăm bảy mươi mốt triệu đồng).

  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

- VKSND huyện Tam Đảo;

- THADS huyện Tam Đảo;

- Lưu hồ sơ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng Quý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/DS - ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO - TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 16/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO - TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ANh Nguyẽn Van hai đề nghị công nhận di chuc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger