|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23 - 01 - 2025
V/v ly hôn, nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huân .
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Hoàng Đắc Hân.
Ông Trần Đình Điệu.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Bích Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 323/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2024 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Huệ A, sinh năm 1998; nơi ĐKTT: Tổ dân phố Q, phường M, thành phố T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn B, (khu vực L), xã L, thành phố T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Đỗ Tiến Q, sinh năm 1999; nơi ĐKTT: Tổ dân phố Q, phường M, thành phố T, thành phố Hải Phòng. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại K1, Trại giam Y, huyện P, tỉnh Sơn La. Vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Đoàn Thị Huệ A là nguyên đơn, khởi kiện với nội dung chị và anh Đỗ Tiến Q kết hôn trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là Ủy ban nhân dân phường M, thành phố T, thành phố Hải Phòng) vào ngày 19 tháng 02 năm 2020. Sau lễ cưới, vợ chồng về chung sống cùng nhau tại nhà của bố mẹ đẻ anh Q tại tổ dân phố Q, phường M, thành phố T.
Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận được một thời gian ngắn, đến giữa năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn và dẫn đến việc sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị Huệ A trình bày là do vợ chồng tình tình không hòa hợp, bất đồng trong sinh hoạt; anh Q không có việc làm ổn định, mải chơi dẫn đến vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án phạt tù từ cuối năm 2020. Đến nay sau thời gian dài sống ly thân, tình cảm giữa chị và anh Q đã lạnh nhạt, không ai còn quan tâm đến ai, nên chị Huệ A giữ nguyên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Tiến Q. Chị và anh Q có 01 con chung tên Đỗ Nhật M, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2019. Khi ly hôn, chị Huệ A đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Cấp dưỡng nuôi con do vợ chồng tự thỏa thuận và không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị và anh Q không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Anh Đỗ Tiến Q là bị đơn, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác. Tại bản tự khai đề ngày 05/12/2024, anh Q trình bày thống nhất với chị Huệ A về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn. Nay, chị Huệ A có đơn xin ly hôn, quan điểm của anh Q là đồng ý ly hôn. Anh và chị Huệ A có 01 con chung tên Đỗ Nhật M, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2019. Khi ly hôn, anh Q đồng ý để chị Huệ A được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung. Do đang phải chấp hành án phạt tù tại Trại giam Y, tỉnh Sơn La không thể có mặt tham gia phiên tòa nên anh Q đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Về thẩm quyền giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên đã tuân theo đúng quy định của pháp luật quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Đoàn Thị Huệ A được ly hôn với anh Đỗ Tiến Q. Giao con chung tên Đỗ Nhật M cho chị Đoàn Thị Huệ A trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyên đơn nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết
Chị Đoàn Thị Huệ A có đơn xin ly hôn với anh Đỗ Tiến Q. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Đỗ Tiến Q đăng ký thường trú tại tổ dân phố Q, phường M, thành phố T, thành phố Hải Phòng và hiện đang chấp hành án phạt tù tại trại giam Y. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của bị đơn
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về yêu cầu của chị Đoàn Thị Huệ A ly hôn với anh Đỗ Tiến Q
Chị Đoàn Thị Huệ A và anh Đỗ Tiến Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, việc kết hôn giữa chị Huệ A và anh Q là hợp pháp. Qua lời khai của đương sự và tài liệu xác minh tại địa phương thống nhất thể hiện, đời sống chung của chị Huệ A và anh Q đã phát sinh mâu thuẫn từ cuối năm 2020 và dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân nhau đó cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng trong sinh hoạt, anh Q mải chơi thiếu quan tâm chăm sóc gia đình, có hành vi vi phạm pháp luật, phải đi chấp hành án phạt tù, dẫn đến vợ chồng sống ly thân nhau trong thời gian dài. Nay, chị Huệ A đề nghị được ly hôn anh Q; anh Q có lời khai xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, đồng ý ly hôn với chị Huệ A. Từ đây thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Huệ A và anh Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Huệ A xin ly hôn anh Q.
[4] Về người trực tiếp nuôi con khi ly hôn và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con
Chị Đoàn Thị Huệ A và anh Đỗ Tiến Q có 01 con chung tên Đỗ Nhật M, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2019. Khi ly hôn, chị Huệ A đề nghị được trực tiếp nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét: Tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện, từ khi vợ chồng ly thân, con chung ở cùng với chị Huệ A. Anh Q có lời khai thống nhất để chị Huệ A được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của các đương sự và ổn định đời sống của con chung, căn cứ các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cho chị Đoàn Thị Huệ A trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đỗ Nhật M.
Cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Chị Đoàn Thị Huệ A và anh Đỗ Tiến Q thống nhất đề nghị để tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.
[5] Về tài sản chung
Chị Đoàn Thị Huệ A và anh Đỗ Tiến Q có lời khai thống nhất không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí, chị Đoàn Thị Huệ A phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Huệ A:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đoàn Thị Huệ A được ly hôn với anh Đỗ Tiến Q.
-
Về con chung:
Giao cho chị Đoàn Thị Huệ A trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Nhật M, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2019 đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
Về tài sản chung:
Chị Đoàn Thị Huệ A và anh Đỗ Tiến Q không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Đoàn Thị Huệ A phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí đã nộp (ghi tại biên lai thu số 0010164 ngày 01/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên), chị Đoàn Thị Huệ A đã nộp đủ án phí.
-
Về quyền kháng cáo:
Chị Đoàn Thị Huệ A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Anh Đỗ Tiến Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huân |
Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đoàn Thị Huệ Anh ly hôn anh Đỗ Tiến Quân
