Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN MINH

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST

Ngày 28 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đạng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Bình, bà Mua Thị Vân.

- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Quỳnh Trang là Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà: Ông Mai Minh Thuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 18/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 15/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên Giàng Mí H, sinh ngày 08/3/1991, tại xã D, huyện Y, tỉnh Hà Giang; nơi thường trú: Thôn K, xã D, huyện Y, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng Dũng S, sinh năm 1967 và bà Mua Thị K, sinh năm 1978; vợ: Thào Thị D, sinh năm 1995, con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Phương N là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt.

- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã D, huyện Y, tỉnh Hà Giang.

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự: Ông Nguyễn Văn M, chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã D, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt (đã ủy quyền tham gia tố tụng).

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự: Ông Cháng Mí G, chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã D, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Mua Mí T, Ly Mí S1, Mua Mí S2, Ly Vả L. Vắng mặt.

+ Người phiên dịch tiếng dân tộc Mông: Ông Vừ Mí X, Trú tại: Tổ D, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng đầu tháng 01/2024 (không xác định được ngày cụ thể) Giàng Mí H, sinh năm 1991, trú tại thôn K, xã D, huyện Y, tỉnh Hà Giang nảy sinh ý định lên rừng khai thác gỗ Nghiến để bản thân sử dụng sửa chữa nhà ở của mình. Khoảng một tuần sau (không xác định được ngày cụ thể) khoảng 07 giờ sáng, H một mình mang theo 01 (một) máy cưa xăng cầm tay nhãn hiệu GASOLINE SAW 5900; 03 (ba) lam xích; 02 (hai) lưỡi cưa (dạng xích); 01 (một) kích thủy lực cầm tay; 01 (một) thước dây bằng kim loại; 01 (một) thanh sắt bằng kim loại hai đầu nhọn, dạng hình chữ U; 01 (một) dao quắm bằng kim loại, phần mũi dao đã bị gãy, chuôi dao bằng gỗ; 01 (một) búa (rìu) bằng kim loại, cán bằng gỗ đi đến khu vực rừng phòng hộ là rừng tự nhiên thuộc thôn K, xã D, huyện Y, tỉnh Hà Giang tìm cây gỗ Nghiến để khai thác. Khoảng 09 giờ cùng ngày H đi đến Lô G, K, Tiểu Khu I, loại rừng phòng hộ là rừng tự nhiên, thuộc địa phận thôn K, xã D, huyện Y, tỉnh Hà Giang thấy 01 (một) cây gỗ Nghiến mọc tự nhiên còn tươi, đường kính trung bình gốc là 1,29m thì H sử dụng máy cưa xăng mang theo trước đó, lắp lam xích dài 1,10m cắt ngang gốc cây, cách mặt đất 02m, Hờ cưa hai đường ở hai bên gốc cây theo hướng từ ngoài vào trong, cưa được khoảng hơn 60 phút thì cây đổ, sau khi cưa đổ cây Nghiến trên Hờ cất máy cưa và dụng cụ đem theo trước đó vào bụi cỏ dưới thân cây rồi đi bộ về nhà.

Đến khoảng 07 giờ sáng, ngày 25 tháng 01 năm 2024, H tiếp tục một mình đi bộ đến vị trí cây gỗ Nghiến đã cưa đổ trước đó, đến nơi H dùng sải tay đo đoạn gần gốc phần thân cây Hờ đã cưa đổ trước đó dài 2,82m, rồi dùng máy cưa xăng cầm tay H giấu ở dưới thân cây, nổ máy cắt đứt phần thân cây vừa đo, sau đó dùng kích thủy lực mang theo trước đó để kích, nâng đoạn thân cây vừa cưa ra rồi tiếp tục xẻ ra một phần tư đoạn thân trên thì thấy bị rỗng lõi bên trong nên H tiếp tục dùng tay đo và dùng máy cưa xăng cầm tay cưa một nửa phần thân cây tiếp giáp đoạn vừa cắt ra dài hơn 02 m. Sau đó H dùng thước dây bằng kim loại mang theo trước đó đo một đoạn cành cây rồi dùng dao cắt ra một đoạn dài 05cm, để làm thước đo độ dày tấm ván để xẻ, H dùng đoạn cây vừa cắt ra đo rồi dùng dao đánh dấu vào phần thân cây vừa cưa ra nhằm tạo thành các tấm ván có kích thước giống nhau, đo xong Hờ lắp lam xích dài 80cm vào máy cưa xăng cầm tay trên rồi xẻ phần gỗ vừa cắt ra được 08 (tám) tấm gỗ có kích thước cụ thể như sau: 01 (một) tấm gỗ, kích thước dài 2,52m, rộng 57cm, dày 6cm; 01 (một) tấm gỗ, kích thước dài 2,52m, rộng 58cm, dày 5cm; 01 (một) tấm gỗ, kích thước dài 2,55m, rộng 44cm, dày 5cm; 01 (một) tấm gỗ, kích thước dài 2,5m, rộng 55cm, dày 5cm; 01 (một) tấm gỗ, kích thước dài 2,52m, rộng 53cm, dày 6cm; 01 (một) tấm gỗ, kích thước dài 2,52m, rộng 59cm, dày 5cm; 01 (một) tấm gỗ, kích thước dài 2,52m, rộng 53cm, dày 5cm; 01 (một) tấm gỗ, kích thước dài 1,46m, rộng 40cm, dày 4cm.

Tại bản Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực Lâm nghiệp số 07-2024/KL-GĐ, ngày 08/7/2024 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh H, kết luận:

"03 (ba) mẫu vật gửi giám định nêu trên đồng nhất một chủng loại gỗ, tên và nhóm gỗ như sau:

+ Tên Việt Nam: Nghiến

+ Tên khoa học: B (Gagnep.) K1

(Excentrodendron tonkinense(A.Chev.)H1)

N1 (B) là cây gỗ lớn thuộc chi Nghiến (B) họ Đay (T), lớp Hai mầm lá (D1), ngành Hạt kín (Angiospermae).

Loài nghiến (Burretiondendron tonkinense) được xếp nhóm IIA trong “Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm” ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Chính phủ;

Gỗ N1 (Burretiondendron tonkinense) được xếp nhóm II trong “Bảng phân loại tạm thời các loại gỗ sử dụng thống nhất trong cả nước” ban hành kèm theo Quyết định số 1298-CNR ngày 26 tháng 11 năm 1977 của Bộ L1 - nay là Bộ N2.

Kèm theo kết luận giám định: Không.

H2 lại đối tượng giám định: Không hoàn mẫu giám định. Mẫu giám định được lưu tại Chi cục Kiểm lâm trong thời gian 01 năm từ ngày phát hành kết quả.”

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS, ngày 22/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y, kết luận về giá tài sản:

“Định giá theo yêu cầu định giá tài sản số 359/YC-ĐCSHS-KTMT ngày 17/7/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, 01 cây gỗ Nghiến mọc tự nhiên, nhóm IIA, thuộc loại thực vật quý hiếm, có tổng khối lượng là 17,408m³ (mười bảy phẩy bốn trăm linh tám mét khối) được cắt thành 16 đoạn, khúc, tấm có tổng giá trị 177.561.600đ (Một trăm bảy mươi bảy triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn sáu trăm đồng)”

Vật chứng thu giữ được trong quá trình điều tra gồm: Tổng số 17,408m³ gỗ Nghiến, gồm 16 đoạn, khúc, tấm; đã trích 03 mảnh gỗ (01 mảnh gỗ có kích thước (15 x 9 x 02) cm; 01 mảnh gỗ có kích thước (9 x 5 x 0,5) cm; 01 mảnh gỗ có kích thước (7 x 7 x 4,5) cm) gửi giám định. Hiện nay số gỗ trên đã bàn giao cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện Y, tỉnh Hà Giang quản lý tại hiện trường vụ án; 01 (một) máy cưa xăng cầm tay màu đỏ, đen, nhãn hiệu GASOLINE SAW 5900, máy cưa dài 1,10m, gắn lam dài 70cm, lưỡi cắt dạng xích bằng kim loại màu đen (cũ đã qua sử dụng); 01 (một) thước dây bằng kim loại, đã rỉ sét dài 7,68m, rộng 2cm (cũ đã qua sử dụng); 01 (một) thanh sắt bằng kim loại hai đầu nhọn, dạng hình chữ U, kích thước dài 50cm, phần móc nhọn hai đầu dài 4cm (cũ đã qua sử dụng); 01 (một) sợi xích bằng kim loại (dạng lưỡi cưa xích) kích thước dài 2,15m (cũ đã qua sử dụng); 01 (một) lam dài 1,35m, rộng 10cm, bằng kim loại màu bạc, đen (cũ đã qua sử dụng); 01 (một) lam dài 97cm, rộng 10cm, bằng kim loại màu bạc, đen (cũ đã qua sử dụng); 01 (một) kích thủy lực cầm tay dài 20cm, đường kính đáy 11cm, bằng kim loại, màu đỏ (cũ đã qua sử dụng).

Đối với số vật chứng gồm: 01 con dao quắm, 01 chiếc búa rìu bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội khi phát hiện có người đến bị cáo đã để lại tại hiện trường vụ án, quá trình khám nghiệm hiện trường không phát hiện số vật chứng trên do đó không thu giữ được, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm đối với hai vật chứng trên nhưng đến nay vẫn không có kết quả.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự ông Nguyễn Kiên C - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã D, huyện Y, tỉnh Hà Giàng đề nghị xử lý nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo Giàng Mí H, về phần dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do gia đình bị cáo Giàng Mí H thuộc diện cận nghèo, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình không có tài sản. Tại phiên tòa ông ông Cháng Mí G là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự cũng không đề nghị gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số: 14/CT-VKSYM ngày 18/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh đã truy tố bị cáo Giàng Mí H về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 232 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng d khoản 2 Điều 232; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Giàng Mí H từ 02 đến 03 năm tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”; về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, không có nghề nghiệp thu nhập ổn định, không có tài sản nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo nộp tài liệu chứng cứ đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn dân sự số tiền 1.000.000 đồng, tại Chi cục thi hành án dân sự, đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện này; về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, để: Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội và là tài sản do phạm tội mà có gồm: 17,408m³ gỗ Nghiến, gồm 16 đoạn, khúc, tấm; đã trích 03 mảnh gỗ (01 mảnh gỗ có kích thước (15 x 9 x 02) cm; 01 mảnh gỗ có kích thước (9 x 5 x 0,5) cm; 01 mảnh gỗ có kích thước (7 x 7 x 4,5) cm) gửi giám định; 01 (một) máy cưa xăng cầm tay màu đỏ, đen, nhãn hiệu GASOLINE SAW 5900, máy cưa dài 1,10m, gắn lam dài 70cm, lưỡi cắt dạng xích bằng kim loại màu đen (cũ đã qua sử dụng); 01 (một) sợi xích bằng kim loại (dạng lưỡi cưa xích) kích thước dài 2,15m (cũ đã qua sử dụng); 01 (một) lam dài 1,35m, rộng 10cm, bằng kim loại màu bạc, đen (đã qua sử dụng); 01 (một) lam dài 97cm, rộng 10cm, bằng kim loại màu bạc, đen (đã qua sử dụng); 01 (một) kích thủy lực cầm tay dài 20cm, đường kính đáy 11cm, bằng kim loại, màu đỏ (cũ đã qua sử dụng).

đỏ (cũ đã qua sử dụng). Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 (một) thước dây bằng kim loại, đã rỉ sét dài 7,68m, rộng 2cm (đã qua sử dụng); 01 (một) thanh sắt bằng kim loại hai đầu nhọn, dạng hình chữ U, kích thước dài 50cm, phần móc nhọn hai đầu dài 4cm (đã qua sử dụng); về án phí: Đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt; về trách nhiệm dân sự bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho nguyên đơn dân sự xong số tiền 1.000.000đ nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện yên Minh.

Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Việc điều tra truy tố xét xử bị cáo “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 232 của Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội, tuy nhiên khi lượng hình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì bị cáo đã thực sự thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả được số tiền 1.000.000đ cho nguyên đơn dân sự; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, bị cáo là người dân tộc thiểu số, không được học hành nên nhận thức pháp luật có nhiều hạn chế, bị cáo có mẹ già, vợ sức khỏe yếu, các con còn nhỏ là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng xử phạt bị cáo từ 2 năm đến 02 năm 06 tháng tù; về án phí đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; về xử lý vật chứng và các vấn đề khác nhất trí theo đề nghị tại luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về phần dân sự; về trách nhiệm hình sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên có quan điểm: Bị cáo, người bào chữa bào chữa cho bị cáo, những người tham gia tố tụng đều đồng tình với tội danh, điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát điều đó khẳng định việc điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; đối với quan điểm người bào chữa đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo và đều nằm trong khung đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, quan điểm của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự đồng tình với luận tội của Viện kiểm sát, do vậy Viện kiểm sát không có tranh luận đối đáp gì thêm.

Những người tham gia tố tụng không còn ai có tranh luận đối đáp gì thêm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sơ xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố xét xử đều được thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không có khiếu nại, tố cáo trong quá trình Điều tra, truy tố, xét xử. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố xét xử đều hợp pháp; Về tính hợp pháp của các chứng cứ tài liệu do Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng cung cấp đều được đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không có khiếu nại, tố cáo trong quá trình Điều tra, truy tố, xét xử. Do đó các chứng cứ tài liệu do Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng cung cấp đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa vắng mặt người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn dân sự, tuy nhiên đã ủy quyền tham gia tố tụng tại phiên tòa; vắng mặt những người làm chứng Mua Mí T, Lỵ Mí S1, Mua Mí S2, Ly Vả L không có lý do, tuy nhiên đã có lời khai lưu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.

[3] Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận do muốn có gỗ phục vụ nhu cầu sử dụng của bản thân, mặc dù không được cấp có thẩm quyền cho phép nhưng khoảng đầu tháng 01 năm 2024 (không xác định được ngày cụ thể) Giàng Mí H một mình đi đến khu vực Lô G, K, Tiểu Khu I, loại rừng phòng hộ là rừng tự nhiên thuộc địa phận thôn K, xã D, huyện Y, tỉnh Hà Giang cưa hạ 01 (một) cây gỗ Nghiến mọc tự nhiên, thuộc nhóm IIA, thuộc loài thực vật nguy cấp, quý hiếm có tổng khối lượng 17,408m³, có giá trị là 177.561.600 đồng rồi đi về nhà, đến ngày 25 tháng 01 năm 2024 Giàng Mí H một mình đi đến vị trí cây gỗ Nghiến Hờ đã cưa hạ trước đó cắt, xẻ cây gỗ Nghiến thành 16 đoạn, khúc, tấm, trong lúc Hờ đang cắt, xẻ cây gỗ Nghiến trên thì Mua Mí T, sinh năm 1981, Ly Mí S1, sinh năm 1981; Mua Mí S2, sinh năm 1985 và Ly Vả L, sinh năm 1991 cùng trú tại thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hà Giang đi đến nhìn thấy, biết việc khai thác gỗ của mình bị phát hiện nên H tắt máy rồi mang theo máy cưa xăng cầm tay, 02 lam xích và kích thủy lực đi bộ về nhà để lại toàn bộ tổng số 17,408m³ gỗ Nghiến tại hiện trường.

[4] Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản, sơ đồ, bản ảnh xác định hiện trường, biên bản thực nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, biên bản xác định địa điểm, vị trí, chủng loại, nhóm loài, số lượng, khối lượng lâm sản thiệt hại, trích lược đồ. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bởi lời khai của người làm chứng Mua Mí T, Ly Mí S1, Mua Mí S2, Ly Vả L và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có lưu trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Mặc dù không được cấp có thẩm quyền cho phép khai thác, tuy nhiên do muốn có gỗ phục vụ nhu cầu sử dụng của bản thân bị cáo một mình đi đến khu vực Lô G, K, Tiểu Khu I, loại rừng phòng hộ là rừng tự nhiên thuộc địa phận thôn K, xã D, huyện Y, tỉnh Hà Giang cưa hạ 01 (một) cây gỗ Nghiến mọc tự nhiên, thuộc nhóm IIA, thuộc loài thực vật nguy cấp, quý hiếm có tổng khối lượng 17,408m³, có giá trị là 177.561.600đ. Hành vi khai thác lâm sản trái phép của bị cáo Giàng Mí H nêu trên đã xâm phạm đến chế độ bảo vệ rừng và quản lý lâm sản của Nhà nước, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật lâm nghiệp năm 2017, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 232 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[5] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra đã trực tiếp gây thiệt hại cho nhà nước, làm thu hẹp diện tích rừng tự nhiên, đồng thời còn là một trong những nguyên nhân khiến con người phải hứng chịu ngày càng nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lụt, lũ quét, sạt lở đất, là một trong những nguyên nhân gây nên sự mất cân bằng hệ sinh thái, biến đổi khí hậu thất thường chính vì vậy nên cần phải xử lý nghiêm. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết về pháp luật nhất định, nên có thể nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tuy nhiên chỉ vì nhu cầu của bản thân mà bị cáo đã cố ý một thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho cộng đồng và công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả được số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) cho nguyên đơn dân sự, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo là cá nhân thuộc diện người cận nghèo do vậy không có điều kiện kinh tế để nộp phạt, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 232 của Bộ luật Hình sự.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự không đề nghị bị cáo phải bồi thường. Đối với số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) bị cáo đã tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Minh ngày 28/11/2024 để bồi thường khắc phục hậu quả cho nguyên đơn dân sự, Hội đồng xứt xử thấy cần ghi nhận sự tự nguyện này.

[10] Về vật chứng: Cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, để xử lý như sau:

13.1] Cần tịch thu sung quỹ nhà nước đối với vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội và là tài sản do phạm tội mà có thu giữ của Giàng Mí H gồm:

+ 17,408m³ gỗ Nghiến, gồm 16 đoạn, khúc, tấm; đã trích 03 mảnh gỗ (01 mảnh gỗ có kích thước (15 x 9 x 02) cm; 01 mảnh gỗ có kích thước (9 x 5 x 0,5) cm; 01 mảnh gỗ có kích thước (7 x 7 x 4,5) cm) gửi giám định.

+ 01 (một) máy cưa xăng cầm tay màu đỏ, đen, nhãn hiệu GASOLINE SAW 5900, máy cưa dài 1,10m, gắn lam dài 70cm, lưỡi cắt dạng xích bằng kim loại màu đen (cũ đã qua sử dụng);

+ 01 (một) sợi xích bằng kim loại (dạng lưỡi cưa xích) kích thước dài 2,15m (cũ đã qua sử dụng);

+ 01 (một) lam dài 1,35m, rộng 10cm, bằng kim loại màu bạc, đen (đã qua sử dụng);

+ 01 (một) lam dài 97cm, rộng 10cm, bằng kim loại màu bạc, đen (đã qua sử dụng);

+ 01 (một) kích thủy lực cầm tay dài 20cm, đường kính đáy 11cm, bằng kim loại, màu đỏ (cũ đã qua sử dụng).

[13.2] Cần tịch thu tiêu hủy vật chứng thu giữ của Giàng Mí H không có giá trị sử dụng: 01 (một) thước dây bằng kim loại, đã rỉ sét dài 7,68m, rộng 2cm (đã qua sử dụng); 01 (một) thanh sắt bằng kim loại hai đầu nhọn, dạng hình chữ U, kích thước dài 50cm, phần móc nhọn hai đầu dài 4cm (đã qua sử dụng).

[13.3] Đối với số vật chứng gồm: 01 con dao quắm, 01 chiếc búa rìu bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội khi phát hiện có người đến bị cáo đã để lại tại hiện trường vụ án, quá trình khám nghiệm hiện trường không phát hiện số vật chứng trên do đó không thu giữ được, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm đối với hai vật chứng trên nhưng đến nay vẫn không có kết quả. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[14] Về án phí: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo là cá nhân thuộc hộ cận nghèo, bị cáo đã có đơn xin miễn án phí nên cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, để miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[15] Do vậy, quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ pháp luật để chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 232, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47, của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 4 Điều 123, Điều 292, Điều 293, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng Mí H phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 25 (hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Giàng Mí H kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/11/2024 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với:

+ Tổng số 17,408m³ gỗ Nghiến, gồm 16 đoạn, khúc, tấm; đã trích 03 mảnh gỗ (01 mảnh gỗ có kích thước (15 x 9 x 02) cm; 01 mảnh gỗ có kích thước (9 x 5 x 0,5) cm; 01 mảnh gỗ có kích thước (7 x 7 x 4,5) cm) gửi giám định. Hiện nay số gỗ trên đã bàn giao cho UBND xã D, huyện Y, tỉnh Hà Giang quản lý tại hiện trường vụ án;

+ 01 (một) máy cưa xăng cầm tay màu đỏ, đen, nhãn hiệu GASOLINE SAW 5900, máy cưa dài 1,10m, gắn lam dài 70cm, lưỡi cắt dạng xích bằng kim loại màu đen (cũ đã qua sử dụng);

+ 01 (một) sợi xích bằng kim loại (dạng lưỡi cưa xích) kích thước dài 2,15m (cũ đã qua sử dụng);

+ 01 (một) lam dài 1,35m, rộng 10cm, bằng kim loại màu bạc, đen (đã qua sử dụng);

+ 01 (một) lam dài 97cm, rộng 10cm, bằng kim loại màu bạc, đen (đã qua sử dụng);

+ 01 (một) kích thủy lực cầm tay dài 20cm, đường kính đáy 11cm, bằng kim loại, màu đỏ (cũ đã qua sử dụng).

- Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) thước dây bằng kim loại, đã rỉ sét dài 7,68m, rộng 2cm (đã qua sử dụng); 01 (một) thanh sắt bằng kim loại hai đầu nhọn, dạng hình chữ U, kích thước dài 50cm, phần móc nhọn hai đầu dài 4cm (đã qua sử dụng).

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản lập ngày 21/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Hà Giang với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang).

4. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả của bị cáo cho nguyên đơn dân sự với số tiền 1.000.000₫ (một triệu đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Minh ngày 28/11/2024, người nhận tiền là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự: Ông Cháng Mí G, chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã D, huyện Y, tỉnh Hà Giang.

5. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) cho bị cáo Giàng Mí H.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết Bản án.

7. Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Yên Minh;
  • - Cơ quan Điều tra Công an huyện Yên Minh;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Yên Minh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Đạng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình Bình

Mua Thị Vân

Hoàng Văn Đạng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giàng Mí H phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger