Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST

Ngày 21/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thanh Thúy, ông Vũ Xuân Bình.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Lường Khánh Ly, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2024/HSST ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/HSST-QĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Lò Văn L ngày 20/10/1997thành phố S, tỉnh Sơn LaNơi cư trú: Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn LaTrình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Lò Văn T; sinh năm 1977 và bà Lò Thị T1; sinh năm 1978; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 03/8/2022, Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 13 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt từ ngày 06 tháng 9 năm 2024; được áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 06/9/2024, tổ công tác Công an phường C, thành phố S phát hiện một đối tượng nam giới đang đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm ma túy. Tổ công tác đã mời người chứng kiến và yêu cầu người nam giới đứng lại kiểm tra. Quá trình kiểm tra nam thanh niên khai tên Lò Văn L1, sinh năm 1997, trú tại tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. L1 tự giác lấy trong túi quần bên phải phía trước đang mặc ra giao nộp 01 gói giấy bạc bên trong có chứa 03 viên nén màu hồng và 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong chứa cục, bột màu trắng (L1 khai là ma túy cất giữ để sử dụng). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn L1 và thu giữ vật chứng nghi chất ma túy, niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 1801/KL - KTHS ngày 07/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận:

  • “- Mẫu ký hiệu V1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,13 gam.
  • - Mẫu ký hiệu V2 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam.
  • - Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,10 gam; loại Heroine (H) và 0,35 gam; loại Methamphetamine.”

Tại bản Cáo trạng số 481/CT- VKSTP ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lò Văn L1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn L1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

  • - Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt Lò Văn L1 từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
  • - Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh mảnh giấy bạc, 01 mảnh giấy có dòng kẻ bên trong, mẫu lưu L1, L2 = 0,27 gam.
  • Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự buộc bị cáo Lò Văn L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Ngày 06/9/2024, Lò Văn L1 đã có hành vi cất giữ trái phép 0,35 gam ma túy Methamphetamine và 0,10 gam ma túy Heroine (tổng khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo Lò Văn L1 là 0,45 gam) trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực ngõ đường dân sinh cạnh trường Cao đẳng S thuộc tổ B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La.

Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như: bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo tại giai đoạn điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 00 phút ngày 06/9/2024 tại khu vực tổ B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 1801/KL - KTHS ngày 07/9/2024 của phòng K - Công an tỉnh S...và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên toà không phát sinh thêm tình tiết mới.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hành vi tàng trữ 0,35 gam ma túy Methamphetamine và 0,10 gam ma túy Heroine của bị cáo Lò Văn L1 đủ yếu tố cấu thành tội Tàngtrái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

[3.1] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3.4]Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử phạt hành chính, áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: khối lượng ma tuý bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,35 gam ma túy Methamphetamine và 0,10 gam ma túy Heroine, có 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hìnhcó 01 tỉnh tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, cần xem xét xử phạt bị cáo ở mức 20 (Hai mươi) tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đặc điểm nhân thân của bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, bản thân không có công việc và thu nhập ổn định và không có tài sản gì có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về nguồn gốc 0,35 gam ma túy Methamphetamine và 0,10 gam ma túy Heroine bị thu giữ, bị cáo khai nhận mua của người nam giới không quen biết vào ngày 06/9/2024 tại khu vực ngõ đường dân sinh cạnh trường Cao đẳng S thuộc tổ B, phường C, thành phố S. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.

[6] Về vật chứng của vụ án: Đối"Đối với số ma tuý còn lại sau khi trừ trích rút giám định và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, do đó cần tuyên tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn L1 phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn L1 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 06/9/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc, 01 mảnh giấy có dòng kẻ bên trong, mẫu lưu L1, L2 = 0,27 gam.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lò Văn L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 21/11/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thành phố Sơn La (2);
  • - THADS thành phố Sơn La;
  • - CQĐT Công an thành phố Sơn La;
  • - THAPT (2);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Lâm - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger