TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2024/KDTM - ST
Ngày: 20/11/2024
V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Danh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Hậu và bà Nguyễn Thị Liên
Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Vân - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: bà Trương Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, mở phiên tòa sơ thẩm để xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 45/2024/TLST – KDTM ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 230/2024/QÐST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (B)
Địa chỉ trụ sở: Tháp B, A T, quận H, thành phố Hà Nội;
Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – chức vụ: Chủ tịch HĐQT
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến P – chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ1, chi nhánh P2 (Theo Quyết định số 963/QĐ-BIDV ngày 25/10/2021 của Chủ tịch HĐQT B)
Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Cao Văn C
Chức vụ: Giám đốc P3 (Theo Quyết định số 860/QĐ-BIDV.PD ngày 30/7/2024 của Giám đốc chi nhánh Ngân hàng B) – có mặt;
- Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1964
Trú tại: xóm G (xóm B cũ), xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/5/2024 và các bản tự khai người đại diện theo quỷ quyền lại của Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng B), ông Cao Văn C trình bày:
Bà Lê Thị H vay vốn kinh doanh tại Ngân hàng B – Chi nhánh P2 thông qua Hợp đồng tín dụng số 01/2023/15238414/HĐTD ngày 17/3/2023 số tiền vay: Số tiền vay: 700.000.000 (Bảy trăm triệu) đồng. Lãi suất: Áp dụng lãi suất cố định 11.5 %/năm trong thời gian hiệu lực của hợp đồng. Mục đích: bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh. Thời hạn: 11 tháng. Ngày giải ngân:17/3/2023. Ngày đáo hạn: 19/2/2024.
Tài sản đảm bảo khoản vay: Tất cả các khoản vay của bà Lê Thị H được bảo đảm bằng tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 239, tờ bản đồ 45 diện tích 353,3 m2, địa chỉ xóm B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận số CH 987762 do UBND huyện Y cấp ngày 12/6/2017 cho hộ bà Lê Thị H; ngày 05/5/2021, để thừa kế QSD đất cho bà Lê Thị H theo hồ sơ số 0376601 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/15238414/HĐBĐ ngày 11/5/2021.
Do bà Lê Thị Hoàng vi P1 cam kết về việc trả nợ nên Ngân hàng B đề nghị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu buộc bà Lê Thị H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho B. Tại phiên tòa, Ngân hàng B giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng B. Số tiền nợ tạm tính đến ngày 20/11/2024 tại Hợp đồng tín dụng là: nợ gốc: 700.000.000 đồng; Lãi thông thường: 45.165.753 đồng; Lãi quá hạn: 90.976.027 đồng. Tổng cộng: 836.141.781 đồng (Bằng chữ: Tám trăm ba mươi sáu triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng)
Đối với lãi vay tiếp tục được tính theo Hợp đồng tín dụng cho đến khi khách hàng thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, trường hợp khi xử lý tài sản thế chấp không đủ để trả nợ, khách hàng tiếp tục chịu lãi vay cho số tiền chưa thanh toán cho đến khi trả hết nợ.
Trường hợp bà Lê Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên, thì Ngân hàng B có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 239, tờ bản đồ 45 diện tích 353,3 m2, địa chỉ xóm B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận số CH 987762 do UBND huyện Y cấp ngày 12/6/2017 cho hộ bà Lê Thị H; ngày 05/5/2021, để thừa kế QSD đất cho bà Lê Thị H theo hồ sơ số 03766 và các tài sản gắn liền trên đất theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/15238414/HĐBĐ ngày 11/5/2021 để thu hồi nợ.
Sau khi phát mại tài sản thế chấp nếu chưa đủ số tiền trả nợ cho Ngân hàng B thì buộc bà Lê Thị H thực hiện việc trả nợ cho đến khi thanh toán hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng B.
Đối với lệ phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ) phía Ngân hàng B tự nguyện chi nộp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày15/8/2024 bị đơn bà Lê Thị H trình bày: Bà có mối quan hệ quen biết nên đã vay tiền của ngân hàng B về và cho bà X vay lại. Sau đó do làm ăn thua lỗ nên bà X không trả tiền đúng hạn dẫn đến việc bà không trả nợ được cho ngân hàng. Nay ngân hàng khởi kiện bà đề nghị Tòa án và ngân hàng tạo điều kiện cho bà trả nợ dần và có thể kéo dài thời gian trả nợ. Bà Lê Thị H không ký vào các biên bản, Tòa án đã tiến hành lập biên bản sự việc có sự chứng kiến của xóm trưởng và xác nhận của chính quyền địa phương. Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bà H đều vắng mặt không có lý do và không có các văn bản thể hiện ý kiến phản hồi cũng như tài liệu để chứng minh cho nội dung đã trình bày của mình.
Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu đã xác minh nơi cư trú và sự có mặt của đương sự, kết quả xác minh thể hiện: Bị đơn có đăng ký hộ khẩu và hiện cư trú, sinh sống tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định đối với tài sản thế chấp, hiện trạng tài sản không có gì thay đổi so với thời điểm thế chấp.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu đã thụ lý đúng thẩm quyền, trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc bị đơn vắng mặt Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định pháp luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: đề nghị áp dụng Điều 317, khoản 6 Điều 320, khoản 7 Điều 323, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự; các Điều 91, điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu nộp không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: buộc bị đơn phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, thảo luận tại, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Ngân hàng B khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Thị H thanh toán số tiền nợ gốc, lãi theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết có mục đích thanh toán tiền kinh doanh hàng tạp hóa theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ cá thể số 27L80000020.123 do UBND huyện Y cấp. Do đó được xác định là quan hệ tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại điểm b, mục 9 Hợp đồng tín dụng “Luật áp dụng giải quyết tranh chấp” nêu rõ: “Hai bên thống nhất Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu”. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc vắng mặt bị đơn: bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:
[2.1]. Xét yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc và lãi:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ lãi và gốc tại Hợp đồng tín dụng số 01/2023/15238414/HĐTD ngày 17/3/2023 được kí kết giữa Ngân hàng B, chi nhánh P2 đối với bị đơn là bà Lê Thị H.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ đã thể hiện các bên tham gia ký kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình ký kết và thực hiện Hợp đồng, các bị đơn không có ý kiến gì, nguyên đơn (bên cho vay) là Ngân hàng đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ của bên cho vay mà hai bên đã ký là đã giải ngân số tiền 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng cho bị đơn với lãi suất 11.5%/ năm, thời hạn: 11 tháng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Lê Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định tại mục 6 “Lịch trả nợ gốc/ lãi” của Hợp đồng tín dụng “Bên vay có trách nhiệm thanh toán toàn bộ dư nợ gốc của khoản vay vào ngày đáo hạn của Hợp đồng này” và “lãi vay được Bên vay trả định kỳ 03 tháng một lần, vào ngày 25 của tháng thứ 3”. Do đó, việc ngân hàng B khởi kiện buộc phía bị đơn phải thanh toán tiền nợ gốc 700.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn chưa thanh toán theo mức lãi suất 11,5% và tiền lãi quá hạn (150% lãi suất cho vay trong hạn) là phù hợp với các thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng về số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất trong hạn, điều chỉnh lãi suất theo biên độ, lãi suất quá hạn đồng thời phù hợp với các quy định của pháp luật trong hoạt động tín dụng ngân hàng, bảng kê chi tiết được hạch toán trong hệ thống BIDV, các quy định tại Điều 463, Điều 464 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận. Do vậy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn theo mức lãi suất mà bên thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng số 01/2023/15238414/HĐTD ngày 17/3/2023. Cụ thể:
- + Tiền nợ gốc: 700.000.000 đồng
- + Tổng tiền nợ lãi trong hạn (11.5 %/ năm, thời gian vay 336 ngày) là: 45.165.753 đồng.
- + Tiền nợ lãi quá hạn (150% lãi suất cho vay tính từ 20/2/2024 đến 20/11/2024) là: 90.976.027 đồng.
Tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 20/11/2024 là: 836.141.781 đồng (Tám trăm ba mươi sáu triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng).
Từ ngày 21 tháng 11 năm 2024, Ngân hàng B tiếp tục tính tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi tất toán xong khoản vay.
Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
[2.2].Về việc xử lý tài sản thế chấp:
Để đảm bảo cho khoản vay bà Lê Thị H đã tự nguyện thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 239, tờ bản đồ 45 diện tích 353,3 m2, địa chỉ xóm B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận số CH 987762 do UBND huyện Y cấp ngày 12/6/2017 cho hộ bà Lê Thị H; ngày 05/5/2021, để thừa kế QSD đất cho bà Lê Thị H theo hồ sơ số 03766 và các tài sản gắn liền trên đất theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/15238414/HĐBĐ ngày 11/5/2021.
Xét Hợp đồng thế chấp bất động sản đảm bảo pháp lý về mặt trình tự thủ tục, các điều khoản được ký kết trong hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, tài sản thế chấp thuộc quyền sử dụng và quyền sở hữu của bà Lê Thị H, được đăng ký giao dịch bảo đảm. Hợp đồng thế chấp đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật về hình thức và được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo Điều 122, 124, 318, 319, 323 và Điều 342 Bộ luật dân sự; Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm nên Hợp đồng thế chấp có hiệu lực thi hành đối với các bên.
Do đó căn cứ vào Điều 688 của Bộ luật Dân sự để chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng B là trong trường hợp bà Lê Thị H không trả được toàn bộ số nợ thì Ngân hàng B có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền trên đất được thể hiện chi tiết tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Trường hợp số tiền thu được sau khi phát mại tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bị đơn vẫn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng B cho đến khi tất toán hợp đồng. Trường hợp giá trị tài sản thế chấp lớn hơn khoản nợ thì số tiền chênh lệch phải trả lại cho chủ sử dụng, sở hữu tài sản thế chấp.
[3]. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ và được chấp nhận toàn bộ, nên cần buộc bị đơn bà Lê Thị H phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán. Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 40; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 317, Khoản 6 Điều 320, Khoản 7 Điều 323, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468, Điều 688 của Bộ luật dân sự.
- Điều 91, điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;
- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1.
[1]. Về nghĩa vụ trả nợ: Buộc bị đơn bà Lê Thị H phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ1 đến ngày 20/11/2024 tại Hợp đồng tín dụng số 01/2023/15238414/HĐTD ngày 17/3/2023 là: Tiền nợ gốc: 700.000.000 (Bảy trăm triệu) đồng; tiền nợ lãi trong hạn là: 45.165.753 (Bốn mươi lăm triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn bảy trăm năm mươi ba) đồng, tiền nợ lãi quá hạn là: 90.976.027 (Chín mươi triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn không trăm hai mươi bảy) đồng. Tổng cộng là: 836.141.781 đồng (Tám trăm ba mươi sáu triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong các khoản nợ, bà Lê Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng.
Trường hợp trong các Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
[2]. Về việc xử lý tài sản thế chấp:
Trường hợp bà Lê Thị H hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản vay cho Ngân hàng thì Ngân hàng có nghĩa vụ hoàn trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 987762 do UBND huyện Y cấp ngày 12/06/2017 cho hộ bà Lê Thị H. Ngày 05/05/2021, để thừa kế QSD đất cho bà Lê Thị H, sinh năm 1962, thường trú tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo hồ sơ số 03766.TK.001 cho bị đơn.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Lê Thị H không thanh toán toàn bộ khoản nợ thì Nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: thửa đất số 239, tờ bản đồ 45 diện tích 353,3 m2, địa chỉ xóm B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận số CH 987762 do UBND huyện Y cấp ngày 12/6/2017 cho hộ bà Lê Thị H; ngày 05/5/2021, để thừa kế QSD đất cho bà Lê Thị H theo hồ sơ số 03766 và các tài sản gắn liền trên đất theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/15238414/HĐBĐ ngày 11/5/2021 để thu hồi nợ. Hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền trên đất được thể hiện chi tiết tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Trường hợp số tiền thu từ việc bán xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết nợ thì Bà Lê Thị H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho phía nguyên đơn.
[3]. Về án phí: Buộc bà Lê Thị H phải nộp 37.084.253 (Ba mươi bảy triệu không trăm tám mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi ba) đồng tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- Trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền tạm ứng án phí 17.500.000 (Mười bảy triệu năm trăm nghìn) đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011505 ngày 01/7/2024.
[4]. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7; 7a; 7b và điều 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Danh Hùng |
Bản án số 16/2024/KDTM - ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 16/2024/KDTM - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA
