Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST

Ngày: 18/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Thanh Bắc

Bà Lò Thị Ánh Ngọc

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Tuấn Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Vi Thị Hoàng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với Bị cáo:

Họ và tên: Hờ N; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1960, tại Sơn La; Nơi cư trú: Bản P, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông Nghiệp. Trình độ văn hóa (học vấn): Không; Con ông: Hờ Vàng C – Sinh năm 1927 (Đã chết) và con bà: Thào Thị S – Sinh năm 1927; Vợ: Vàng Thị M – Sinh năm 1960; Bị cáo có 01 người con sinh năm 1988; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/6/2024 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

  • * Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lò Thị X – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ. (Có mặt)
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vàng Thị M, sinh năm 1960, nơi cư trú: Bản P, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (Có mặt)
  • * Người phiên dịch: Ông Sùng A M1, sinh năm 2004, nơi cư trú: Thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Điện Biên. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 20/6/2024, Hờ Nhìa D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27B1 – 247.28 của D đi từ nhà ở bản P, xã M, huyện Đ mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến bản P, xã H, huyện Đ, D gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 30 tuổi (Không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine và 01 gói gồm 05 viên Methamphetamine với giá 100.000 đồng. Mua xong, D cất giấu số ma túy vào trong chiếc ủng bên phải của D rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Hồi 18 giờ cùng ngày, khi D đang đi trên đường thuộc bản P, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị Tổ công tác Đồn Biên phòng M2 phối hợp với phòng Phòng chống ma túy và tội phạm – Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đ và Công an xã H, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong chiếc ủng bên phải của D đang đi có 01 gói nilon màu xanh, mở bên trong có 02 gói nilon màu trắng, trong đó 01 gói chứa các cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng 0,72 gam, gói còn lại chứa 05 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng 0,51 gam, tổng khối lượng hai chất ma túy là 1,23 gam. Ngoài ra còn tạm giữ của D 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 27B1 – 247.28.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và niêm phong vật chứng gửi giám định ngày 21/6/2024 đã xác định như sau: các cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng là 0,72 gam gửi toàn bộ giám định, 05 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng là 0,51 gam gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số 1100/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Hờ Nhìa Di có khối lượng 0,72 gam các cục, bột màu trắng là chất ma túy: Loại Heroine; Vật chứng thu giữ của H1 có khối lượng 0,51 gam các viên nén màu hồng là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Kèm theo kết luận giám định hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Tại bản cáo trạng số 199/CT-VKSHĐB ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Hờ Nhìa D về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm i Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo: Từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy gồm: 0,53 gam Heroine và 0,4 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu xanh và 02 mảnh nilon màu trắng.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1 – 247.28, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE S, số khung: 5262DY126538, số máy: JC52E1368943, màu sơn: đen - xám, xe đã cũ, đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo Hờ Nhìa D, Bị cáo D đã sử dụng xe một tô làm phương tiện phạm tội nhưng do chiếc xe đó là tài sản chung của vợ chồng bị cáo D nên đề nghị HĐXX trả lại cho chị Vàng Thị M ½ giá trị chiếc xe và tịch thu sung ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị miễn tòa bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố, cho rằng Viện kiểm sát truy tố, Tòa án xét xử bị cáo là đúng người đúng tội, đúng quy định pháp luật. Vì vậy đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt Bị cáo ở mức thấp nhất của hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị; Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí HSST đối với Bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên. Bị cáo là người cao tuổi và là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vàng Thị M xin lại chiếc xe mô tô để phục vụ việc đi lại của gia đình.

Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo Hờ Nhìa Di xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo. Bị cáo tuổi cao sức yếu, bản thân cũng rất hối hận đối với hành vi của mình. Mong HĐXX xem xét cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Hờ Nhìa D khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 18 giờ ngày 20/6/2024, tại khu vực bản P, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Hờ Nhìa D bị tổ công tác Đồn Biên phòng M2 phối hợp với phòng Phòng chống ma túy và tội phạm – Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đ và Công an xã H, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang vì đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,72 gam Heroine và 0,51 gam Methamphetamine, tổng khối lượng hai chất ma túy là 1,23 gam, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do D mua của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 30 tuổi (Không biết tên và địa chỉ) tại bản P, xã H, huyện Đ với số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Hờ Nhìa D về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2] Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo là người cao tuổi (trên 60 tuổi), sức khỏe yếu vì vậy HĐXX cũng sẽ xem xét mức hình phạt đối với bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật cũng để tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

[3.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nên không có tình tiết tăng nặng.

[3.2] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra, bị cáo và gia đình bị cáo có khai bố đẻ của bị cáo D là ông Hờ Vàng C trước đây có tên là Hờ A T, ông T được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Tuy nhiên, quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh tại UBND xã M, huyện T, tỉnh Sơn La, Phòng nội vụ huyện T, tỉnh Sơn La, UBND xã M, huyện Đ, Phòng tư pháp huyện Điện Biên. Qua các biên bản xác minh về nhân thân cũng như thủ tục cải chính hộ tịch đối với ông Hờ Vàng C thì thấy không có căn cứ nào chứng minh ông Hờ A T đổi tên thành ông Hờ Vàng C, cũng như không có căn cứ nào chứng minh ông Hờ A T và ông Hờ Vàng C là cùng một người. Gia đình bị cáo cũng không cung cấp được giấy tờ tùy thân của ông Hờ A T và các giấy tờ đổi tên từ Hờ A T sang tên Hờ Vàng C. Như vậy hội đồng xét xử không có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51/BLHS cho bị cáo.

[3.3] Về nhân thân: Bị cáo chưa bị cáo Tòa án nào xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Như vậy, sau khi xem xét hành vi phạm tội của bị cáo cùng với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính Bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, nghề nghiệp của bị cáo là nông nghiệp, không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên không có khả năng thi hành. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.

[5] Đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với Bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù, người bào chữa đề nghị mức hình phạt thấp nhất do VKS đề nghị, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý

kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng: Số Heroine bị thu giữ là 0,72 gam đã gửi giám định toàn bộ hoàn lại 0,53 gam, số Methamphetamine thu thu giữ là 0,51 gan đã gửi giám định toàn bộ hoàn lại 0,4 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Đối với 01 mảnh nilon màu xanh và 02 mảnh nilon màu trắng là công cụ dùng vào việc phạm tội xét thấy không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 27B1 – 247.28, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE S, số khung: 5262DY126538, số máy: JC52E1368943, màu sơn: đen - xám, xe đã cũ, đã qua sử dụng, bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội. Tuy nhiên đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo D, khi bị cáo sử dụng không nói cho bà M biết bị cáo sử dụng vào việc đi mua ma túy. Ngoài ra, gia đình bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bà M xin lại chiếc xe để làm phương tiện đi lại. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước ½ giá trị chiếc xe và trả ½ giá trị chiếc xe cho vợ bị cáo là bà Vàng Thị M theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

[8] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông dân tộc Mông bán ma túy Bị cáo khai không biết tên và địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không có cơ sở xác minh làm rõ, Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Bị cáo là người cao tuổi và là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và đề nghị được miễn án phí hình sự sơ thẩm vì vậy HĐXX miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

  1. Về tội danh: Bị cáo Hờ Nhìa D phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Về mức hình phạt: Xử phạt Bị cáo 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 20/6/2024).
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy: 0,53 gam Heroine và 0,4 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu xanh và 02 mảnh nilon màu trắng.
    • Tịch thu sung quỹ Nhà nước ½ giá trị chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1 – 247.28, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE S, số khung: 5262DY126538, số máy: JC52E1368943, màu sơn: đen - xám, xe đã cũ, đã qua sử dụng.
    • Trả lại cho chị Vàng Thị M, sinh năm 1960, địa chỉ: bản P, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên ½ giá trị chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1 – 247.28, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE S, số khung: 5262DY126538, số máy: JC52E1368943, màu sơn: đen - xám, xe đã cũ, đã qua sử dụng.

    (Vật chứng của vụ án đã được Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2024).

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn toàn bộ phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Người có QL,NV LQ;
  • - Nhà tạm giữ CAHĐB;
  • - VKSND huyện Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - CQCSĐT CAHĐB;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Chi cục THADS huyện Điện Biên;
  • - Toà án ND tỉnh Điện Biên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Sở tư pháp; Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Yên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 01 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger