Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 16/2024/ HSST.

Ngày: 14/11/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Cát Tưởng

Ông Nguyễn Đình Vụ

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Hà Trọng Lam - Kiểm sát viên.

Ngày 14/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/HSST ngày 09/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo: Lê Văn L - sinh năm: 1990; số căn cước công dân: [...]; nơi cư trú: Phố I, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Lê Văn T và con bà Dương Thị X; chồng là Dương Thị Lâm A và có 02 con lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ; tạm giam: không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.

* Người bị hại: Anh Dương Khắc T1, sinh năm: 1995 - vắng mặt.

Nơi cư trú: Phố I, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

* Người làm chứng: Chị Dương Thị Lâm A, sinh năm: 1995 - vắng mặt.

Nơi cư trú: Phố I, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Lê Văn L bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 19h ngày 27/07/2024, khi Dương Khắc T1 về nhà mình ở phố I, phường T, thành phố T thì phát hiện con chim cảnh nuôi trong lồng bị mất, lồng chim bị gãy. Nghi ngờ mèo của gia đình Lê Văn L (hàng xóm gần nhà T1) bắt chim nên T1 đã đi sang nhà L tìm gặp nói chuyện. Khi đến trước cổng nhà L, T1 nhìn vào sân thì thấy con mèo nhà L đang ăn thịt con chim của mình, thời điểm này L không có ở nhà mà chỉ có vợ là chị Dương Thị Lâm A, sinh năm 1995, nên T1 đã nói với chị A về sự việc trên và yêu cầu nhốt mèo lại, hai bên lời qua tiếng lại, sau đó T1 đi về. Đến khoảng 20h30' cùng ngày, khi T1 đang ở trong nhà thì nghe thấy phía ngoài đường có tiếng Luân chửi bới, T1 chạy ra chửi nhau với L. Sau đó, T1 chạy vào sân nhà mình lấy một chiếc gậy bằng tre, đường kính khoảng 04, dài khoảng 01m, một đầu được vót bè, còn L chạy về sân nhà mình lấy một con dao dài khoảng 30cm, lưỡi rộng khoảng 05cm, cả hai chạy ra đường, khi đến trước nhà ông Lê Văn T (là bố L, ở khoảng giữa nhà L và nhà T1), T1 hai tay cầm gậy vụt vào đầu và tay phải L, L cầm dao bằng tay trái chém một nhát vào tay phải của T1, T1 vứt gậy bỏ chạy, thấy thế L cũng vứt dao tại hiện trường rồi chạy về nhà. Hậu quả: Cả T1 và L đều bị thương.

- Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thế, lập hồi 23h15’ngày 27/07/2024, xác định Dương Khắc T1 bị thương như sau:

  • + 01 (một) vết thương rách da, chảy máu tại mặt ngoài cẳng tay phải, vết thương bờ mép sắc gọn, kích thước (7x2) cm, vị trí phía dưới 1/3 cánh tay phải.
  • + 01 (một) vết thương rách da, chảy máu, bờ mép nham nhở, kích thước (3 x 0,5) cm tại mặt trong ngón cái bàn chân trái.
  • + 02 (hai) vết xước da chảy máu tại đầu gối phải lần lượt là (2x1) cm và (1,5 x1) cm.
  • + 01 (một) vết xây xước da tại đầu gối trái trong diện (4x2) cm.
  • + Vết xây xước da, chảy máu tại cẳng tay trái: vết tại 1/3 trên kích thước (6 x 2) cm; vết tại cẳng kích thước (7x1) cm 1/3 giữa.

Dương Khắc T1 được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T và Bệnh viện V đến ngày 30/7/2024 thì ra viện.

- Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thế, lập hồi 21h50' ngày 27/07/2024, xác định Lê Văn L bị thương như sau:

  • + 01 (một) vết thương rách da chảy máu dài 06 cm (sáu) tại vị trí vùng trán đỉnh, sưng nề xung quanh.
  • + Đau và hạn chế vận động cổ tay phải
  • + Đau và hạn chế vận động gối phải.

Lê Văn L được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ.

Quá trình giải quyết vụ việc, cả Dương Khắc T1 và Lê Văn L đều có đơn đề nghị giám định thương tích và yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 658/KLTTCT-PYTH ngày 22/8/2024, Trung tâm P kết luận: Dương Khắc T1 bị tổn hại 16% sức khỏe.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 675/KLTTCT-PYTH ngày 28/8/2024, Trung tâm P kết luận: Lê Văn L bị tổn hại 03% sức khỏe. Ngày 04/9/2024, sau khi nhận thông báo kết quả giám định thương tích, Lê Văn L tiếp tục có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Ngày 11/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 219/QĐ-ĐTTH và Quyết định khởi tố bị can số 466/QĐ-ĐTTH đối với Dương Khắc T1 về tội: “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự để tiến hành điều tra.

Việc thu giữ đồ vật, xử lý vật chứng: Đối với con dao mà Lê Văn L dùng để chém Dương Khắc T1 và chiếc gậy tre mà Dương Khắc T1 dùng để đánh Lê Văn L, cả T1 và L đều khai sau khi xảy ra sự việc đã vứt tại hiện trường, Cơ quan Công an đã tiến hành truy tìm nhưng không phát hiện, thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Lê Văn L và Dương Khắc T1 đã tự thoả thuận và giải quyết xong phần dân sự, không có yêu cầu đề nghị gì thêm. Dương Khắc T1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Văn L.

Cáo trạng số 295/CT-VKS ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố Lê Văn L về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thành phố T luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS; Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án. đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Vào khoảng 20h30' ngày 27/07/2024, tại phố I, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa do mâu thuẫn trong sinh hoạt hàng ngày, Lê Văn L đã dùng dao (là hung khí nguy hiểm) chém 01 nhát vào cánh tay phải Dương Khắc T1. Hậu quả làm cho Dương Khắc T1 bị tổn hại 16% sức khỏe.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội đã đánh giá đúng tính chất hành vi nguy hiểm của tội phạm, đồng thời vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Văn L về tội: “Cố ý gây thương tích” như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Văn L đã phạm vào tội: “Cố ý gây thương tích”. Tuy tỷ lệ thương tích bị cáo đã gây cho bị hại chỉ ở mức truy cứu TNHS tại khoản 1, nhưng bị cáo dùng dao (là hung khí nguy hiểm), vì lẽ đó bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS.

[3]. Trong vụ án này giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẩn thù hằn gì, xuất phát từ việc nhỏ nhặt trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, giữa bị cáo và bị hại có lời qua tiếng lại và thách thức nhau, khi bị cáo thấy bị hại chạy về nhà cầm gậy tre thì bị cáo đã chạy vào sân nhà mình cầm dao, chỉ vì xử sự không tế nhị, dẫn đến hai bên lao vào xô xát nhau, nên bị cáo đã gây thương tích cho anh T1 làm tổn hại 16% sức khỏe. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến thân thể, gây tổn hại sức khỏe cho người khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nhất là nơi công cộng. Với tính chất vụ án là nghiêm trọng, cần phải được xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tính giáo dục và phòng ngừa chung.

Lê Văn L là đối tượng nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, bản thân bị cáo chưa có sai phạm, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình; bị hại cũng có một phần lỗi nên bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS, thì việc cách ly khỏi xã hội đối với bị cáo là không cần thiết mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 65

của BLHS để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà nghiêm túc cải sửa để chấp hành một cách tốt hơn.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, nay không yêu cầu gì cần được công nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS; Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Lê Văn L phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn L 27 (hai bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 54 (năm tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Văn L cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong.

Về án phí : Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7B và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - VKSND TP Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Công an T;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HSST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 16/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger