|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST
Ngày 21 - 10 - 2024
“V/v tranh chấp hôn nhân gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Trọng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Bằng và bà Đỗ Thị Kim Thuý
Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Thuỳ Dương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Phùng Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 04/2024/TLST-HNGĐ ngày 20/02/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu F, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, “Có mặt”.
- Bị đơn: Ông KUO, YUNG - CHI, sinh năm 1956; địa chỉ: Số A đoạn B đường P, ngõ A, phường P, khu B, thành phố Đ, Đài Loan, Trung Quốc, “Có đơn xin xét xử vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/12/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 15/01/2024 và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Hoàng Thị T trình bày:
Bà và ông K, Y - Chi được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 02/10/2019 tại Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng gia đình nhà bà T tại khu F, xã T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Được khoảng nửa tháng sau ông K, Y - Chi quay lại Đài Loan (Trung Quốc) làm việc từ đó đến nay.
Bà T đi phỏng vấn nhiều lần để lấy visa sang Đài Loan sinh sống cùng ông K, Y - Chi nhưng không được. Sau đó dịch Covid 19 liên tục mấy năm nên ông K, Y - C cũng không về được Việt Nam. Nay bố mẹ bà T đã già yếu cần có người chăm sóc nên bà T không thể sang Đài Loan được, ông K, Y - C cũng không thu xếp để về Việt Nam được. Do đó nhận thấy khoảng cách địa lý xa xôi, vợ chồng không có điều kiện ở gần để chăm sóc lẫn nhau và chung sống hạnh phúc nên bà T đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông K, Y - Chi.
Về con chung: Không có. Con riêng: Có 02 con riêng là cháu Trần Xuân B, sinh năm 2001 và cháu Trần Thị Hương Q, sinh năm 2004. Các cháu đều đã trưởng thành, không đề nghị giải quyết.
Về tài sản chung, tài sản riêng, vay nợ và công sức: Bà không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai của bị đơn ông K, Y - Chi gửi về cho Tòa án thông qua phiên dịch viên Nguyễn Thị X của Văn phòng C1 trình bày: Ông thống nhất về thời gian kết hôn, quá trình chung sống như bà T trình bày. Sau khi kết hôn bà T nhiều lần đi phỏng vấn để cấp visa sang Đài Loan nhưng đều không đạt, đồng thời do dịch bệnh Covid 19 diễn ra nhiều năm nên bà T không thể sang được Đài Loan. Đến nay bố mẹ của bà Hoàng Thị T đã già yếu cần người chăm sóc nên bà T không còn ý định sang Đài Loan nữa, do đó bà T và ông K, Y - C nhận thấy hai bên không thể chung sống cùng nhau. Nay bà T đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông Kuo Yung C, thì ông cũng nhất trí.
Về con chung: Không có.
Về tài sản, công nợ, công sức: Ông không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã tuân thủ, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục từ khi thụ lý đến tại phiên tòa sơ thẩm; người tham gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 57, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị T, xử cho bà Hoàng Thị T và ông K, Y - Chi ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án và xác nhận về nơi cư trú, bị đơn ông K, Y - Chi mang quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan), hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Nguyên đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết về ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
[1.2]. Bị đơn ông K, Y - Chi mang Quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan), hộ chiếu số [...] do Bộ N cấp ngày 16/6/2023. Ngày 16/7/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc nhận được 02 Văn bản bằng chữ viết tiếng Trung Quốc của ông K, Y - Chi gửi từ Đài Loan (Trung Quốc) về. Ngày 01/8/2024, bà Nguyễn Thị X - Cộng tác viên phiên dịch tiếng Trung của Văn phòng C1 đã dịch 01 văn bản bằng chữ viết tiếng Trung (Bút lục 35) trong hồ sơ vụ án với nội dung Đơn đồng ý ly hôn đề ngày 12/7/2024 của ông K, Y - Chi và 01 Văn bản bằng chữ viết tiếng Trung (Bút lục 34) trong hồ sơ vụ án với nội dung Giấy uỷ quyền đề ngày 12/7/2024 của ông K, Y - Chi.
[1.3]. Tại Kết luận giám định số 324/KL-KTHS ngày 26/8/2024 của V Bộ C2 đã kết luận: Chữ viết thứ 1 đến chữ viết thứ 3 bằng tiếng Trung Quốc tính từ phải sang trái, tại dòng chữ viết thứ 2 tính từ dưới lên trên các mẫu cần giám định A1 (Văn bản tiếng Trung dịch ra tiếng Việt là Đơn đồng ý ly hôn); A2 (Văn bản tiếng Trung dịch ra tiếng Việt là Giấy uỷ quyền) so với chữ viết dưới mục “Chồng” tại Giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 02/10/2019, ký hiệu M do cùng một người viết ra. Căn cứ Điều 94, Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định là chứng cứ để giải quyết vụ án.
[1.4]. Tại đơn đồng ý ly hôn của bị đơn ông K, Y - Chi gửi đến Tòa án ngày 16/7/2024, bị đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung khởi kiện: Bà Hoàng Thị T và ông K, Y - Chi được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 02/10/2019 tại Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng gia đình nhà bà T tại khu F, xã T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Được khoảng nửa tháng thì ông K, Y - Chi quay lại Đài Loan (Trung Quốc) sinh sống và làm việc từ đó đến nay.
[2.1]. Bà T đã đi phỏng vấn nhiều lần để lấy visa sang Đài Loan sinh sống cùng ông K, Y - Chi nhưng đều không đạt. Sau đó dịch Covid 19 liên tục mấy năm nên ông K, Y - C không về được Việt Nam. Nay bố mẹ bà T đã già yếu, cần có người trực tiếp chăm sóc nên bà T không thể sang Đài Loan chung sống cùng ông K, Y - Chi. Do đó nhận thấy khoảng cách địa lý xa xôi, vợ chồng không có điều kiện ở gần để chăm sóc lẫn nhau và chung sống hạnh phúc nên bà T đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông K, Y - Chi. Ông K, Y - C3 cũng nhất trí ly hôn với bà T. Hội đồng xét xử thấy đề nghị của bà T và ông K, Y - Chi là chính đáng nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T, cho bà T được ly hôn ông K, Y - Chi
[2.2]. Về con chung: Không có. Về con riêng: Bà T có 02 con riêng là cháu Trần Xuân B, sinh năm 2001 và cháu Trần Thị Hương Q, sinh năm 2004. Các cháu đều đã trưởng thành, bà T không đề nghị giải quyết nên không xem xét.
[2.3]. Về tài sản, vay nợ, công sức: Không ai đề nghị Toà án giải quyết nên không xem xét.
[3]. Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Về chi phí tố tụng: Bà T tự nguyện chịu toàn bộ 5.012.000đ chi phí giám định và dịch thuật, xác nhận bà T đã nộp đủ.
[5]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên toà là có cơ sở, cần chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm c khoản 1 Điều 37, các Điều 469, 478, 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Cho bà Hoàng Thị T được ly hôn ông K, Y-Chi.
- Về con chung: Không có; về con riêng: Không xem xét giải quyết.
- Về tài sản, công nợ, công sức: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Hoàng Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007310 ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc. Xác nhận bà T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng: Bà Hoàng Thị T tự nguyện chịu 5.012.000đ chi phí giám định và dịch thuật. Xác nhận bà T đã nộp đủ chi phí tố tụng.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Cục THADS tỉnh Vĩnh Phúc; - UBND huyện Lập Thạch; (Giấy ĐKKH số 11 ngày 02/10/2019); - các đương sự; - Lưu HS-HCTP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Nguyễn Xuân Trọng |
Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST ngày 21/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 16/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
