|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2024/DS-ST
Ngày: 30/9/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín
dụng và tranh chấp thực hiện
nghĩa vụ do người chết để lại
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vương
Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Thu Hà và bà Nguyễn Thị Thơ.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXX-ST ngày 15 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐ – HPT ngày 20 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng C1 (NHCSXH).
Địa chỉ: Số A Phố L, phường H, quận H - TP ..
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T - Tổng giám đốc Ngân hàng C1.
Người được Ủy quyền theo vụ việc: Ông Nguyễn Văn H - Phó Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C1.
* Bị đơn: Ông Phạm Hữu L, sinh năm 1962 (chồng bà Lê Thị T1 đã chết); nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Phạm Văn L1, sinh năm 1988 (con bà Lê Thị T1 đã chết); nơi cư trú ở khu phố T, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Anh Phạm Hữu L2, sinh năm 1990 (con bà Lê Thị T1 đã chết); nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
Quỹ tín dụng nhân dân T (QTDND T).
Địa chỉ: xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình;
Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Văn Đ - Chủ tịch Hội đồng quản trị.
(Tại phiên tòa có mặt ông H, ông Đ, vắng mặt ông L, anh L1, anh L2).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng C1 trình bày: Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C1 đã thực hiện cho vay vốn chương trình Hộ mới thoát nghèo và chương trình Nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn tại xã T, được ủy thác thông qua tổ chức hội đoàn thể xã và các tổ Tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) tại các thôn. Tháng 8 năm 2020 và tháng 10 năm 2021, thông qua Tổ TK&VV thôn P thuộc quản lý của Hội phụ nữ xã T đã tổ chức họp bình xét và hoàn thiện hồ sơ vay vốn theo đơn đề nghị vay vốn của bà Lê Thị T1 - đại diện gia đình đứng ra vay vốn chương trình Hộ mới thoát nghèo và chương trình Nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, thông tin cụ thể như sau:
Tổng số tiền vay: 50.000.000 đồng. Trong đó:
- Chương trình Nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn:
- + Tổng số tiền vay: 20.000.000 đồng;
- + Ngày vay 13/10/2021, lãi suất: 9,0%/năm
- + Mục đích sử dụng vốn: Xây bể nước, xây công trình vệ sinh
- + Thời hạn vay 60 tháng, hạn trả nợ cuối cùng ngày 13/10/2026.
- Chương trình hộ mới thoát nghèo:
- + Tổng số tiền vay: 30.000.000 đồng;
- + Ngày vay: 13/8/2020, lãi suất: 8,25%/năm;
- + Mục đích sử dụng vốn: Sửa chuồng, mua bò giống;
- + Thời hạn vay 35 tháng, hạn trả nợ cuối cùng ngày 13/7/2023;
Món vay hộ mới thoát nghèo đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 13/7/2023 (hồ sơ có thông báo chuyển nợ quá hạn với mức lãi suất quá hạn là 130% lãi suất trong hạn - thông báo đến bà Nguyễn Thị M tổ trưởng tổ TK và CC thuộc hội Phụ nữ xã T). Tổng số tiền vay chuyển quá hạn là 29.300.000 đồng, lãi suất quá hạn là 10,725%/năm (trong hồ sơ có thông báo chuyển nợ quá hạn với toàn bộ số tiền vay 30.000.000 đồng, có bảng kê thu nợ thể hiện ngày 17/7/2023 có trả tiền gốc là 700.000 đồng).
Từ ngày 24/12/2022 người đứng tên vay là bà Lê Thị T1 chết, món vay của gia đình bà T1 tại Ngân hàng C1 không có người thực hiện trả tiền lãi vay. Phòng C1 huyện đã nhiều lần làm việc đối với các thành viên trong gia đình bà Lê Thị T1 để giải thích, tuyên truyền, vận động và đôn đốc thu hồi nợ nhưng đại diện gia đình là ông Phạm Hữu L (là chồng bà T1) cố tình chây ỳ, không có ý thức trả nợ.
Ngân hàng C1 đề nghị Tòa án yêu cầu ông Phạm Hữu L là chồng và là người thừa kế món vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ toàn bộ số tiền vay trong hạn và quá hạn tại Ngân hàng C1, tổng số tiền phải trả tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 55.307.778 đồng trong đó nợ gốc là 49.300.000 đồng, lãi phát sinh là 6.007.778 đồng.
Tại đơn yêu cầu độc lập và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 trình bày: Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 và bà Lê Thị T1, ông Phạm Hữu L có ký kết 02 hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:
Hợp đồng 1: Ngày 21/05/2022 ký hợp đồng tín dụng số 2022-2-02-00106/HĐTD, nội dung hợp đồng: Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 cho bà Lê Thị T1, ông Phạm Hữu L vay số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất 9,0%/năm, thời hạn trả nợ là ngày 21/05/2025, mục đích sử dụng vốn: Xây nhà ở. Hình thức đảm bảo là tín chấp qua tổ chức hội nông dân xã T. Phương thức trả tiền lãi vay hàng tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Trong hồ sơ tại giấy đề nghị vay vốn ngày 20/5/2022 ông L có ký với tư cách là người thừa kế, bà T1 là người ký phần đề nghị vay. Hợp đồng tín dụng ghi cả ông L và bà T1 vay nhưng chỉ có chữ ký của bà T1 trong hợp đồng vay. Ngày 01/01/2023 ông L có ký phụ lục hợp đồng điều chỉnh lãi suất với Quỹ tín dụng điều chỉnh mức lãi suất 12%/năm. Ngày 21/05/2022, Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 đã giải ngân đầy đủ số tiền 100.000.000 đồng cho bà T1 và ông L (bà T1 ký nhận tiền trong phiếu chi). Kể từ khi vay vốn đến nay bà T1 và ông L chỉ trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Thái Thịnh 6.050.000 đồng tiền lãi. Từ tháng 01 năm 2023 đến nay, bà T1 và ông L chưa trả thêm cho Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 bất kỳ khoản tiền gốc và lãi nào. Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 đã nhiều lần đôn đốc bà T1 và ông L trả nợ nhưng bà T1 và ông L không trả.
Hợp đồng 2: Ngày 23/08/2022 ký hợp đồng tín dụng số 2022-1-02-00258/HĐTD, nội dung hợp đồng: Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 cho bà Lê Thị T1, ông Phạm Hữu L vay số tiền 150.000.000 đồng, lãi suất 9,2%/năm, ngày phát tiền vay: 24/8/2022; thời hạn cho vay 01 năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; hạn trả nợ cuối cùng là ngày 24/08/2023, mục đích sử dụng vốn: Mua đất ở cho con. Hợp đồng tín dụng ghi cả ông L và bà T1 vay nhưng chỉ có chữ ký của bà T1 trong hợp đồng vay. Ngày 23/8/2022 quỹ tín dụng có lập biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ: thể hiện nội dung đại diện gia đình 4 thành viên gồm (ông L, bà T1, anh L1, anh L2) có thỏa thuận nội dung: hiện gia đình bà T1 có nợ số tiền tại quỹ là 250 triệu đồng, nếu đến hạn trả nợ gốc mà vợ chồng ông L, bà T1 không trả được thì các con của ông bà là anh L1 và anh L2 có nghĩa vụ trả thay cho bố mẹ số tiền vay và đồng thời quỹ tín dụng có quyền được bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ (biên bản này có chữ ký của ông L, bà T1 và anh L1). Anh L2 có một bản cam kết với nội dung như trên vào ngày 05/8/2022. Hồ sơ cũng có giấy ủy quyền đề ngày 23/8/2022 ông L ủy quyền cho bà T1 thay mặt đại diện xác lập, thực hiện và ký tất cả các giao dịch liên quan đến việc vay vốn tại QTDND T, ủy quyền vay vốn số tiền 150 triệu đồng. Cùng ngày ông L và bà T1 có giấy đề nghị vay vốn số tiền 150 triệu đồng, ông L ký với tư cách người thừa kế, bà T1 ký là người đề nghị vay vốn. Để đảm bảo cho khoản vay này, ngày 23/08/2022 Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 và bà Lê Thị T1, ông Phạm Hữu L ký hợp đồng thế chấp tài sản số 2022-1-02-00258/HĐTC, tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng thửa đất số 63, tờ bản đồ số 01 tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, diện tích sử dụng 418,1m², đã được UBND xã T xác nhận ngày 23/08/2022 và tài sản trên đất gồm 01 ngôi nhà 01 tầng, diện tích 100 m², Công trình phụ 20 m² (Thửa đất này chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Cùng ngày hai ông bà ký hợp đồng ủy quyền cho Quỹ tín dụng Thái T2 có quyền xử lý tài sản bảo đảm khoản vay là thửa đất số 63 tờ bản đồ số 1, thôn P, xã T với diện tích là 418,1m². Đến ngày 24/8/2022 Quỹ tín dụng đã có phiếu chi cho bà T1 số tiền vay 150 triệu đồng (kèm giấy nhận nợ của bà T1).
Sau khi bà T1 chết, ngày 01/01/2023 ông Phạm Hữu L đã đại diện ký vào phụ lục hợp đồng tín dụng thay đổi lãi suất, xác định lãi suất mới là 12,5 %. Từ ngày người đứng tên vay là bà Lê Thị T1 chết, 2 khoản vay trên của gia đình bà T1 tại Quỹ tín dụng nhân dân T để phát sinh số tiền lãi tồn đọng và nợ quá hạn không có người thực hiện trả nợ. Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 đã làm việc đối với các thành viên trong gia đình bà Lê Thị T1 vận động và đôn đốc thu hồi nợ nhưng đại diện gia đình là ông Phạm Hữu L (là chồng người vay) cố tình chây ỳ, không có ý thức trả nợ.
Nay Quỹ tín dụng nhân dân Thái Thịnh yêu cầu Tòa án:
- Buộc ông Phạm Hữu L trả cho Q tín dụng nhân dân Thái T2 tổng số tiền còn nợ theo hai hợp đồng tín dụng trên tạm tính đến 30/9/2024 cụ thể như sau: Hợp đồng tín dụng số 2022-1-02-00258/HĐTD còn nợ gốc 150.000.000 đồng, lãi trong hạn 27.341.918 đồng, lãi quá hạn là 6.692.055 đồng và hợp đồng tín dụng số 2022-2-02-00106/HĐTD còn nợ gốc 100.000.000 đồng, lãi trong hạn 15.677.808 đồng. Tổng số tiền gốc lãi ông Phạm Hữu L phải trả cho quỹ tín dụng của hai hợp đồng trên là 299.711.781 đồng.
- Buộc Ông Phạm Hữu L phải trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Thái Thịnh các khoản nợ lãi phát sinh của Hợp đồng tín dụng số 2022-1-02-00258/HĐTD và Hợp đồng tín dụng số 2022-2-02-00106/HĐTD cho đến khi tất toán các khoản vay.
- Trong trường hợp ông L không thanh toán được toàn bộ nghĩa vụ nợ, thì Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là Quyền sử dụng thửa đất số 63 tờ bản đồ số 01 tại thôn P xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, đã được UBND xã T xác nhận Quyền sử dụng đất ngày 23/08/2022 và tài sản trên đất để thu hồi nợ.
- Nếu số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán cho toàn bộ nghĩa vụ nợ của bà Lê Thị T1, ông Phạm Hữu L tại Quỹ tín dụng nhân dân T, thì Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản khác và nguồn thu hợp pháp của bà Lê Thị T1, ông Phạm Hữu L để thanh toán hết toàn bộ nghĩa vụ nợ của bà Lê Thị T1, ông Phạm Hữu L tại Quỹ tín dụng T.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/7/2024 và ngày 30/8/2024, ông Phạm Hữu L trình bày: Ông có biết việc vợ ông – là bà Lê Thị T1 vay ngân hàng chính sách số tiền gần 50 triệu đồng gồm tiền vay chương trình nước sạch và chăn nuôi. Tuy nhiên khoản tiền này ông không vay, ông không biết. Đến sau khi bà T1 chết, Ngân hàng C1 đến làm việc thì ông mới biết bà T1 có khoản nợ này. Quan điểm của ông là ông không đồng ý trả nợ. Trong giấy ủy quyền đó không phải chữ ký của ông, nhưng ông không yêu cầu giám định chữ ký. Về tài sản do bà T1 để lại thì bà T1 có tài sản chung với ông là ngôi nhà khoảng hơn 50m2 nhà mái bằng xây năm 2015, nhà mái bằng cũ sửa thành kho khoảng hơn 10m² xây dựng khoảng năm 1984 đều xây dựng trên thửa đất số 63 tờ bản đồ số 1 (nay là số A) thôn P, xã T. Nguồn gốc thửa đất do vợ chồng ông được xã cấp năm 1985.
Đối với yêu cầu của Quỹ tín dụng: Ông xác định việc vay nợ là do vợ ông liên hệ vay, ông không biết và không nhận tiền. Ông chỉ biết bà T1 vay quỹ từ lâu và sau đó hết hạn phải đảo sổ. Có nhiều lần yêu cầu ông ký xác nhận nhưng ông không ký, sau đó yêu cầu con trai là anh L2 ký giấy bảo đảm. Còn thời gian và số tiền vay thế nào ông không biết. Quan điểm ông không được nhận số tiền này nên ông không đồng ý trả nơ, không đồng ý phát mại tài sản vì tiền do vợ ông nhận. Chữ ký trong giấy ủy quyền ngày 23/8/2022 không phải chữ ký của ông, và ông không có đề nghị giám định chữ ký.
* Tại biên bản ghi lời khai ngày 15/8/2024, anh Phạm Hữu L2 trình bày: Anh không biết việc mẹ anh vay tiền Ngân hàng C1. Bố mẹ anh có ngôi nhà khoảng hơn 50m², nhà mái bằng xây dựng năm 2013 trên thửa đất số 63 tờ bản đồ số 1 (nay là số A) thôn P, xã T. Khi bố me anh xây nhà có công sức đóng góp của anh và anh trai anh (anh không xác định được cụ thể).
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Phạm Văn L1 và anh Phạm Hữu L2 nhưng anh L1 không đến Tòa án làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án, anh Lưu K có ý kiến trình bày bổ sung đối với yêu cầu của Quỹ tín dụng nhân dân T.
* Tại các biên bản xác minh, UBND xã T cung cấp: Bà T1 sinh năm 1962, chết ngày 24/12/2022. Bà T1 có chồng là ông L và hai con là anh L1 và L2. Bà T1 có bố mẹ đẻ là cụ Lê Văn K1 (chết năm 1998) và cụ Trần Thị C (chết năm 2007). Theo địa phương được biết thì cụ K1 và cụ C chết không để lại di chúc, không có di sản thừa kế. Thửa đất các cụ khi còn sống ở là thửa số 31, tờ bản đồ số 3 tại thôn L, xã T (nay là xã T) huyện T đã được hai cụ tặng cho ông Phí Văn T3 và bà Lê Thị T4 là anh rể và chị gái bà T1. Ông T3 và bà T4 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2007. Về hồ sơ vay vốn giữa bà Lê Thị T1, ông Phạm Hữu L và Quỹ tín dụng nhân dân T vào tháng 8/2022, các bên đã xin chứng thực chữ ký của ông L, bà T1, anh L2 tại UBND xã T. UBND xã đã chứng thực đúng quy định của pháp luật.
Trước khi bà T1 chết có vay ngân hàng chính sách xã hội số tiền 50.000.000 đồng theo chương trình chăn nuôi và chương trình nước sạch. Ông L cũng biết việc bà T1 vay tiền của Ngân hàng chính sách nên sau bà T1 chết thì ông L cũng đã trả cho Ngân hàng chính sách khoảng 4 tháng, sau đó ông L xác định không biết việc bà L vay ngân hàng chính sách nên ông L không đồng ý trả tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng chính sách nữa. Xác định tài sản chung của ông L và bà T1 là có một ngôi nhà cấp 4, công trình phụ khép kín xây trên thửa đất số 63 và thửa đất số 68 đều thuộc tờ bản đồ số 1 (nay là số A) tại thôn P, xã T, thửa đất này theo hồ sơ lưu trữ tại xã từ bản đồ 299 thì không xác định được 02 thửa đất này chưa được cấp quyền sử dụng đất cho ai. Theo sổ quy chủ năm 1993 hai thửa đất mang tên ông L, bà T1, ngoài ra ông bà có tài sản nào khác địa phương không nắm rõ.
* Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với thửa đất số 63, tờ bản đồ số 1 (nay là số A) thôn P, xã T) có diện tích là 375,6m² (ONT, LNK). Tài sản trên đất có nhà và các công trình khác và thửa đất số 68, tờ bản đồ số 1, tại thôn P, xã T (có diện tích 181,2m², đất NTS), không có tài sản trên đất.
* Biên bản định giá tài sản ngày 15/8/2024: Xác định giá trị thửa đất số 63 và 68 là 224.043.480 đồng; giá trị tài sản trên đất là 172.889.891 đồng, tổng giá trị là 396.933.371 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình; bị đơn, người có quyền lợi ngĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử ap dụng khoản 3 Điều 26; Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 92; khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 147; các Điều 157, 165, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 101, 103, 274, 278, 463, 466, khoản 2 điều 468, 470, 614, 615, khoản 2 Điều 623, 658 BLDS; Điều 37, 65, 66 Luật hôn nhân gia đình; điều 188 Luật đất đai; điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C1: xác định ông L và bà T1 còn nợ số tiền gốc là 49.300.000 đồng và lãi tính đến ngày xét xử là 6.007.778 đồng. Ông L phải thanh toán ½ nghĩa vụ. Ông L, anh L1, anh L2 có trách nhiệm liên đới trả phần nghĩa vụ của bà T1 tương ứng ½ nghĩa vụ vay. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân T: xác định ông L, bà T1 nợ Q số tiền gốc là 250.000.000 đồng, và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 49.711.781 đồng; trong đó ông L có trách nhiệm thanh toán ½ nghĩa vụ; Ông L, anh L1, anh L2 có trách nhiệm liên đới trả phần nghĩa vụ của bà T1 tương ứng ½ nghĩa vụ vay. Không chấp nhận yêu cầu xác định hợp đồng thế chấp của Quỹ tín dụng với bà T1, ông L là có hiệu lực pháp luật và quyền được phát mại tài sản thế chấp. Xác định nghĩa vụ liên đới của anh L1, anh L2 và ông L trong phạm vi di sản của bà T1 để lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Quan hệ vay mượn trong các hợp đồng vay và hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng C1, Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 với bà T1 đều có ông L tham gia với tư cách là người thừa kế (trong hợp đồng với quỹ tín dụng nhân dân Thái Thịnh ông L còn ký phụ lục điều chỉnh lãi suất trong 2 hợp đồng vay). Hiện bà T1 đã chết nên phần nghĩa vụ của bà T1 phải do những người thừa kế của bà T1 phải có trách nhiệm trả nợ thay cho bà T1 trong phạm vi di sản của bà T1 để lại. Nên đây là vụ án về tranh chấp hợp đồng tín dụng và tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình nên căn cứ quy định khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy.
[1.2]. Về xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự:
Ngân hàng chính sách khởi kiện ông L, trong đó bà T1 là người vay đã chết, nên Tòa án xác định NHCSXH là nguyên đơn, ông L là bị đơn và đưa những người thừa kế còn lại của bà T1 là anh L1 và anh L2 vào tham gia với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Đối với việc Tòa án đưa Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ngày 30/8/2024, Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 có đơn yêu cầu độc lập về việc yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Hữu L trả cho Q tín dụng nhân dân Thái T2 số tiền nợ gốc và lãi phát sinh của hai hợp đồng và được yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp là Quyền sử dụng thửa đất số 63, tờ bản đồ số 01 tại thôn P xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình trong trường hợp ông L không thanh toán được toàn bộ nghĩa vụ nợ. Xét thấy, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 liên quan đến yêu cầu thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại của Ngân hàng C1 nên sau khi Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 nộp tạm ứng án phí, Tòa án đã đưa Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là phù hợp.
[1.3] Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng C1, người đại diện theo ủy quyền của Quỹ tín dụng nhân dân Thái Thịnh vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt; ông L, anh L1, anh L2 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người này là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C1:
[2.1.1] Về các hợp đồng cho vay giữa Ngân hàng C1 và bà T1 đã ký kết: Việc cho vay giữa Ngân hàng C1 chi nhánh tỉnh T (đại diện là phòng C1) đối với bà Lê Thị T1 là tự nguyện, có chữ ký của bên cho vay và bên vay (bà T1), được thể hiện tại các giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 09/10/2021 đối với số tiền vay là 20.000.000 đồng, mục đích để xây bể nước, xây công trình vệ sinh; Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ ngày 09/8/2020 bà T1 vay số tiền 30.000.000 đồng, mục đích để sửa chuồng, mua giống bò. Sau khi ký giấy đề nghị vay vốn, Ngân hàng C1 đã có các phiếu giải ngân, giải ngân đủ các khoản vay trên. Xét thấy, việc giao kết hợp đồng giữa hai bên không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực. Nội dung thỏa thuận về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và lãi suất chậm trả giữa Ngân hàng C1 và bà T1 là phù hợp với Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.
[2.1.2] Việc bà T1 vay vốn là tự nguyện và đã được nhận đầy đủ số tiền vay, số tiền vay này bà T1 cũng sử dụng vào mục đích chung của gia đình và trong thời kỳ hôn nhân của bà với ông L, mặt khác tại Giấy ủy quyền ngày 09/8/2020 có nội dung ông L ủy quyền cho bà Lê Thị T1 thực hiện đứng tên vay và thực hiện các giao dịch với Ngân hàng C1 - trong đó có nội dung cam kết các thành viên trong hộ chịu trách nhiệm với toàn bộ khoản vay, khi này hộ có 02 người là ông L và bà T1. Ông L cho rằng ông không vay, ông không biết về khoản tiền vay này, đến sau khi bà T1 chết, Ngân hàng chính sách xã hội đến làm việc thì ông mới biết bà T1 có khoản nợ này đồng thời chữ ký trong giấy ủy quyền không phải chữ ký của ông, ông không yêu cầu giám định chữ ký, UBND xã T là nơi chứng thực hợp đồng trên cũng xác định các bên đã xin chứng thực chữ ký của ông L, bà T1 trong các hợp đồng vay tại UBND xã T và UBND xã đã chứng thực đúng quy định của pháp luật. Căn cứ khoản c điểm khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng Dân sự thì những tình tiết, sự kiện ghi trong các văn bản đã được công chứng chứng thực là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Như vậy, HĐXX có đủ căn cứ xác định ông L biết và đồng ý với việc bà T1 vay Ngân hàng chính sách xã hội nên các khoản vay này là nợ chung của vợ chồng bà T1 và ông L. Do đó, ông L phải có trách nhiệm đối với ½ nghĩa vụ của khoản vay trên. Đối với ½ nghĩa vụ của bà T1, hiện nay bà T1 đã chết, những người thừa kế của bà T1 phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho bà T1 đối với phần trách nhiệm của bà đối với các giấy vay vốn trên trong phần di sản của bà để lại.
[2.2] Đối với các hợp đồng tín dụng của Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2:
[2.2.1] Xét hợp đồng tín dụng giữa Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 và bà Lê Thị T1 thì thấy các bên ký kết hợp đồng tín dụng số 2022-2-02-00106/HĐTD, nội dung với vay số tiền 100.000.000 đồng, mục đích sử dụng vốn: Xây nhà ở; hợp đồng tín dụng số 2022-1-02-00258/HĐTD với vay số tiền 150.000.000 đồng, mục đích sử dụng vốn: Mua đất ở cho con. Cả hai hợp đồng vay trên đều ghi bên vay là cả ông L, bà T1 nhưng hợp đồng chỉ có bà T1 ký với tư cách là người vay. Tuy nhiên, trong hồ sơ cũng có giấy ủy quyền của ông L về việc để bà T1 đại diện vay vốn tại Quỹ tín dụng, sau khi bà T1 chết ông L là người trực tiếp ký phụ lục điều chỉnh lãi vay ngày 01/01/2023. Ông L cho rằng nhiều lần yêu cầu ông ký xác nhận nhưng ông không ký, sau đó yêu cầu con trai là anh L2 ký giấy bảo đảm. Tuy nhiên, ông L là người có đủ năng lực hành vi dân sự, ông phải biết việc ông tự nguyện ký vào các giấy ủy quyền, hợp đồng thế chấp, phụ lục điều chỉnh lãi thì ông phải hiểu và chịu trách nhiệm về các văn bản mà ông đã ký kết. Ông cho rằng chữ ký trong giấy ủy quyền ngày 23/8/2022 không phải chữ ký của ông, và ông không có đề nghị giám định chữ ký tuy nhiên UBND xã là nơi xác nhận giấy ủy quyền đã xác định việc chứng thực các giấy tờ của hợp đồng được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Căn cứ khoản c điểm khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng Dân sự thì những tình tiết, sự kiện ghi trong các văn bản đã được công chứng chứng thực là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Xét thấy, việc giao kết hợp đồng giữa hai bên không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực. Nội dung thỏa thuận về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và lãi suất chậm trả giữa Ngân hàng C1 và bà T1 là phù hợp với Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định ông L biết và chấp nhận với khoản vay trên nên xác định các khoản vay của bà T1 với Q tín dụng nhân dân Thái T2 là nợ chung của vợ chồng bà T1 và ông L cụ thể như sau: Đối với hợp đồng tín dụng số 2022-1-02-00258/HĐTD thời hạn trả nợ là ngày 24/8/2023, từ ngày 30/12/2022, ông L đến nay không trả gốc và lãi. Tính đến ngày 30/9/2024 còn nợ gốc 150.000.000 đồng, lãi trong hạn 27.341.918 đồng, lãi quá hạn là 6.692.055 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 184.033.973 đồng. Đối với hợp đồng tín dụng số 2022-2-02-00106/HĐTD có thời hạn trả nợ là 21/5/2025, tuy nhiên từ ngày 16/01/2023 đến nay, ông L vi phạm nghĩa vụ trả lãi hàng tháng là vi phạm Điều 6 hợp đồng tín dụng số 2022-2-02-00106/HĐTD do đó QTDND Thái Thịnh có quyền yêu cầu ông L và các đồng thừa kế của bà T1 phải trả nợ gốc 100.000.000 đồng và lãi trong hạn tính đến ngày 30/9/2024 là15.677.808 đồng, tổng gốc và lãi của khoản vay là 115.677.808 đồng.
[2.2.2] Xét hợp đồng thế chấp tài sản của ông L, bà T1 với Q tín dụng nhân dân Thái Thịnh thấy:
Khoản 1 Điều 188 Luật đất đai 2013 quy định về điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất như sau: “1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
- Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này; ...”
Tại thời điểm Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 và bà T1 ký kết hợp đồng thế chấp thửa đất số 63 tờ bản đồ số 13 thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình thì thửa đất này chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặc dù hợp đồng thế chấp đã được ủy ban xã chứng thực, nhưng tại thời điểm thế chấp thửa đất trên không đủ điều kiện để bà T1 thực hiện quyền thế chấp. Do đó hợp đồng thế chấp trên giữa Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 và bà T1, ông L là vô hiệu.
[2.3] Về xác định người phải thực hiện nghĩa vụ:
[2.3.1] Các khoản vay của bà T1 với Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 và Ngân hàng C1 là nợ chung của vợ chồng bà T1 và ông L. Do đó, ông L phải có trách nhiệm đối với ½ nghĩa vụ của khoản vay trên.
[2.3.2] Theo lời khai của những người thừa kế và kết quả xác minh tại Ủy ban xã T, các giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất và nhân thân của bà T1 thì bà T1 và ông L có tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất số 63, tờ bản đồ số 1 (nay là số A) thôn P, xã T) có diện tích là 375,6m² (ONT, LNK). Tài sản trên đất có nhà và các công trình khác và thửa đất số 68, tờ bản đồ số 1, tại thôn P, xã T (có diện tích 181,2m², đất NTS), không có tài sản trên đất. Đến thời điểm xét xử, các đương sự đều không cung cấp thêm di sản thừa kế nào khác của bà T1. Như vậy, di sản bà Lê Thị T1 để lại là ½ trong khối tài sản chung của bà và ông Phạm Hữu L. Bà T1 chết không để lại di chúc. Hiện nay di sản thừa kế do ông L quản lý, sử dụng và chưa được phân chia.
Khoản 2 Điều 615 Bộ luật Dân sự quy định: “Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại”. Như vậy, di sản thừa kế của bà T1 chưa được phân chia nên những người đang quản lý di sản thừa kế của bà T1 là ông L phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà T1 trong phạm vi di sản bà T1 để lại.
[2.4] Về giá trị di sản bà T1 để lại: Theo kết quả định giá tài sản, giá trị đất và nhà, các công trình trên đất có giá là 396.933.371 đồng. Quá trình giải quyết anh L2 xác định anh em anh có đóng góp vào việc xây nhà nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Do đó, xác định đây là tài sản chung của vợ chồng bà T1 và ông L. Trong đó, phần tài sản là di sản thừa kế của bà T1 có giá trị tương ứng là 198.466.686 đồng.
[2.5] Về xác định nghĩa vụ trả nợ:
[2.5.1] Ngân hàng chính sách yêu cầu trả số tiền gốc và lãi phát sinh theo hai hợp đồng vay tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 55.307.778 đồng trong đó nợ gốc là 49.300,000 đồng, lãi là 6.007.778 đồng. Xác định đây là nợ chung của ông L và bà T1 nên ông L có trách nhiệm ½ nghĩa vụ trên, tương ứng số tiền là 27.653.889 đồng; ông L có trách nhiệm liên đới trả Ngân hàng C1 số tiền 27.653.889 đồng, trong phạm vi di sản của bà T1 để lại;
[2.5.2] Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 yêu cầu trả số tiền gốc và lãi phát sinh theo hai hợp đồng vay tính đến ngày 30/9/2024 là 299.711.781 đồng. Xác định đây là nợ chung của ông L và bà T1 nên ông L có trách nhiệm thanh toán ½ nghĩa vụ trên, tương ứng số tiền là 149.855.891 đồng; ông L có trách nhiệm liên đới thanh toán số tiền 149.855.891 đồng trong phạm vi di sản bà T1 để lại.
[2.5.3] Tổng nghĩa vụ bà T1 để lại là tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 177.509.780 đồng. Di sản thừa kế mà bà T1 để lại có giá trị lớn hơn so với nghĩa vụ mà bà T1 để lại, di sản của bà T1 hiện nay do ông L đang quản lý và chưa phân chia, do đó, ông L có trách nhiệm đại diện cho những người thừa kế của bà T1 trả cho Q tín dụng và số tiền 149.855.891 đồng và Ngân hàng C1 số tiền 27.653.889 đồng, trong phạm vi di sản bà T1 để lại.
[3] Đối với nghĩa vụ chịu án phí:
Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án này được xác định là nghĩa vụ tài sản của bà T1 để lại theo quy định tại khoản 7 Điều 658 Bộ luật Dân sự nên ông L là người thừa kế đang quản lý di sản phải có nghĩa vụ chịu án phí thay cho bà T1 trong phạm vi di sản bà T1 để lại. Ông L phải chịu án phí đối với phần nghĩa vụ của mình.
[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tái ản là 4.000.000 đồng. Ngân hàng C1 đã tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với số tiền 4.000.000 đồng. Nên cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng C1 buộc ông L phải trả lại cho Ngân hàng C1 số tiền xem xét thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 92; khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 147; các Điều 157, 165, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468, Điều 470; Điều 614, Điều 615, khoản 2 Điều 623, Điều 658 Bộ luật dân sự; các Điều 37, 65, 66 Luật hôn nhân gia đình; Điều 188 Luật đất đai 2013; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C1. Xác định ông Phạm Hữu L và bà Lê Thị T1 có nợ chung số tiền gốc và lãi phát sinh theo hai hợp đồng vay tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 55.307.778 đồng trong đó nợ gốc là 49.300,000 đồng, lãi là 6.007.778 đồng. Buộc ông Phạm Hữu L có nghĩa vụ trả ½ nợ chung cho Ngân hàng C1, tương ứng số tiền là 27.653.889 đồng. Ông Phạm Hữu L đại diện cho những người thừa kế của bà T1 có nghĩa vụ trả ½ nợ chung do bà T1 để lại cho Ngân hàng C1, tương ứng với số tiền: 27.653.889 đồng, trong phạm vi di sản của bà T1 để lại.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2. Xác định ông Phạm Hữu L và bà Lê Thị T1 có nợ chung số tiền gốc và lãi phát sinh theo hai hợp đồng vay tính đến ngày 30/9/2024 là 299.711.781 đồng (Hợp đồng tín dụng số 2022-1-02-00258/HĐTD nợ gốc 150.000.000 đồng, lãi trong hạn 27.341.918 đồng, lãi quá hạn là 6.692.055 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 184.033.973 đồng. Hợp đồng tín dụng số 2022-2-02-00106/HĐTD nợ gốc 100.000.000 đồng, lãi trong hạn15.677.808 đồng, tổng gốc và lãi của khoản vay là 115.677.808 đồng). Buộc ông Phạm Hữu L có nghĩa vụ trả ½ khoản nợ chung cho Quỹ tín dụng Thái T2, tương ứng số tiền là 149.855.891 đồng . Ông L đại diện cho những người thừa kế của bà T1 có nghĩa vụ thanh toán ½ khoản nợ chung do bà T1 để lại cho Quỹ tín dụng Thái T2, tương ứng số tiền 149.855.891 đồng đồng trong phạm vi di sản bà T1 để lại.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông L, những người thừa kế của bà T1 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng vay cho đến khi thực tế thanh toán xong khoản nợ trong phạm vi di sản thừa kế bà T1 để lại. Ông L còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng vay cho đến khi thực tế thanh toán xong khoản nợ.
- Không chấp nhận yêu cầu của Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 về quyền phát mại tài sản thế chấp là Quyền sử dụng thửa đất số 63, tờ bản đồ số 01 tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, đã được UBND xã T xác nhận Quyền sử dụng đất ngày 23/08/2022 và tài sản trên đất để thu hồi nợ.
- Về án phí: Ông L phải chịu 8.875.489 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông L đại diện cho những người thừa kế của bà T1 phải chịu 8.875.489 đồng án phí dân sự sơ thẩm thay bà Lê Thị T1 trong phạm vi di sản bà Lê Thị T1 để lại.
Trả lại Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 số tiền 7.458.000 đồng tạm ứng án phí mà Quỹ tín dụng đã nộp theo biên lai tạm ứng án phí số 0004257 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ngày 30/8/2024.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Phạm Hữu L phải trả cho Ngân hàng C1 xã hội toàn bộ số tiền xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 4.000.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Ngân hàng C1 và Quỹ tín dụng nhân dân Thái T2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phạm Hữu L, anh Phạm Văn L1, anh Phạm Hữu L2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Vương |
Bản án số 16/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng và tranh chấp thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại
- Số bản án: 16/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và tranh chấp thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng chính sách và ông L
