TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 16/2024/HSST Ngày: 25-9-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Dung
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Mạnh Hậu
- Ông Đoàn Thái
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại Sân xe hai bánh chợ C đường T - Nội bộ AB chợ C thuộc khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 06/TB-TA ngày 23 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Phạm Minh Q, sinh năm: 2005 tại Kiên Giang; Hộ khẩu thường trú: 103/10/10 M, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Chổ ở hiện nay: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Tuấn A (đã chết) và bà Danh Thị T; Vợ con: Chưa có; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 01/12/2023 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C xử phạt hành chính số tiền 6.500.000đồng về hành vi Cố ý gây thương tích, hiện chưa nộp tiền phạt; Bị bắt tạm giam ngày 24/5/2024, “Có mặt”.
2. Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày: 15/6/2006 tại Kiên Giang; Hộ khẩu thường trú: Tổ G, ấp A, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Chổ ở hiện nay: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc T2 và bà Hồ Thị X; Vợ con: Chưa có; Bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình có 05 chị em; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam ngày 27/6/2024, “Có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo T1: Bà Nguyễn Ngọc Bảo A1, sinh năm: 1986 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B, “Có mặt”.
- Bị hại: Ông Lưu Văn Q1, sinh năm: 2005 (Có mặt)
Hộ khẩu thường trú: Ấp X, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Nơi cư trú: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hồ Thị X, sinh năm: 1977 (Có mặt)
- Ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm: 1975 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
- Người làm chứng:
- Ông Trần Lâm H, sinh năm: 2005 (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm: 2005 (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1988 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Ông Nguyễn Vũ L, sinh năm: 2006 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Bà Lê Thị N, sinh năm: 1975 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 02/04/2024, Phạm Minh Q, Nguyễn Ngọc T1 và Nguyễn Thanh H1 đang ngồi ăn uống (nhậu) tại quán P, đường N thuộc Khu dân cư S, huyện C thì nhóm của Q1 gồm: Lưu Văn Q1, Trần Lâm H, Nguyễn Trọng K và Nguyễn Trọng H2 cũng đến quán P. Thấy vậy, T1 rủ nhóm của Q1 ngồi nhậu cùng. Một lát sau thì có thêm Nguyễn Vũ L đến nhậu cùng. Khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày, trong lúc nhậu thì H và Q phát sinh mâu thuẫn, cự cãi qua lại. Q rủ H đánh nhau với Q và chấp thêm cả K đánh nhau, Q nói “thôi giờ chém nhau luôn đi khỏi đánh” rồi Q, H và K cãi qua cãi lại. Lúc này H2 đã nghỉ nhậu đi về nhà trước. Q hỏi T1 “có đồ không, có mấy cái?”, T1 hiểu là Q hỏi có dao không nên trả lời “có 02 cái”. Q hỏi mượn, T1 biết mục đích của Q sẽ dùng dao để chém nhau với nhóm của H nên đồng ý, đi vào đường mòn ra phía sau quán P (nơi T1 đã cất dấu con dao trước đó) lấy 01 (một) con dao bằng kim loại, màu nâu, đã rỉ sét, dài 50 cm, cán bọc gỗ, dài 5,5 cm, lưỡi dao dài 44,5 cm, bề rộng nhất của lưỡi dao là 5,6 cm đem đến chỗ Q đang ngồi. Q đứng dậy, lấy dao từ T1 và nói “đưa đây tao chém tụi nó”. Q cầm dao bằng tay phải, đưa dao lên chém H thì T1 đẩy Q ra nói “từ từ, để xuống bờ hồ đi” tức là hẹn nhau xuống bờ hồ chém nhau. Lúc này, Q1, H, K đứng dậy cầm ghế nhựa ném vào người Q thì Q cầm dao rượt đuổi chém về phía Q1, H, K nhưng không trúng ai. Sau đó, Q1, K, H quay trở lại bàn nhậu nhìn thấy Q đang cầm dao đi qua lại nên Q1 cầm ly nhựa, H cầm ghế nhựa ném vào người Q. Q cầm dao rượt đuổi chém Q1, Q1 bỏ chạy được khoảng 10 mét thì bị ngã nằm úp xuống vỉa hè. Q chạy tới, đứng bên phải của Q1, cầm dao bằng tay phải, chém một nhát từ trên xuống trúng vào khuỷu tay phải của Q1 gây thương tích. Q1 khom người ngồi dậy thì bị Q chém tiếp 01 (một) nhát vào cẳng chân trái (không có thương tích). Q1 đứng dậy bỏ chạy, Q rượt đuổi được khoảng 5 mét thì dừng lại. Trong lúc Q đang rượt chém Q1 thì T1 mở cốp xe mô tô của mình lấy thêm 01 (một) con dao bằng kim loại, màu đen, dài 50 cm, cán dao bọc gỗ, dài 5,5 cm, lưỡi dao dài 44,5 cm, bề rộng nhất của lưỡi dao là 5,6 cm, lưỡi dao bị sứt mẻ hình răng cưa, đưa cho H. H cầm dao đưa lại cho K nhưng K không chém ai và được mọi người trong quán P. Anh Nguyễn Văn Đ là nhân viên Quán P lấy dao của K, đưa cho chủ quán là chị Lê Thị N. Sau khi chém Q1, Q trả con dao cho T1 mang đi cất giấu.
Ngày 03/04/2024, Q1 đến Trung tâm y tế Quân dân y huyện C điều trị thương tích, đồng thời đến Công an huyện C tố giác Phạm Minh Q về hành vi cố ý gây thương tích. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C triệu tập Phạm Minh Q, Nguyễn Ngọc T1 làm việc. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Q và T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình (BLÐT: 111 - 140).
Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 190/KLTTCT-TTPYST ngày 22/4/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh S kết luận:
- Các kết quả chính:
- Sẹo mặt sau khuỷu tay phải, kích thước lớn. Tổn thương đứt đầu đầu dưới cơ tam đầu cánh tay phải, rách bao khớp tại khuỷu tay phải đã phẫu thuật khâu nối. Tổn thương ảnh hưởng chức năng gấp khuỷu tay phải trong khoảng 50 - 145°. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03% (Ba phần trăm) và 15% (Mười lăm phần trăm).
- Sẹo phẫu thuật mặt sau khuỷu - đầu dưới cánh tay phải, kích thước trung bình. Căn cứ vào Bảng 1, C, Mục I.2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02% (Hai phần trăm).
- Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể của Lưu Văn Q1 tại thời điểm giám định là: 19% (Mười chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác: Tổn thương vùng khuỷu tay phải do vật sắc tác động trực tiếp từ ngoài vào trong (BLĐT: 56 - 57).
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- Ngày 03/4/2024, Nguyễn Ngọc T1 giao nộp 01 (một) con dao bằng kim loại, màu nâu, đã rỉ sét, dài 50 cm, cán bọc gỗ, dài 5,5 cm, lưỡi dao dài 44,5 cm, bề rộng nhất của lưỡi dao là 5,6 cm (BLÐT: 76).
- Ngày 03/4/2024, sau khi xác định được 01 (một) con dao bằng kim loại, màu đen, dài 50 cm, cán dao bọc gỗ, dài 5,5 cm, lưỡi dao dài 44,5 cm, bề rộng nhất của lưỡi dao là 5,6 cm, lưỡi dao bị sứt mẻ hình răng cưa là vật chứng của vụ án, chị Lê Thị N, chủ quán P đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C (BLÐT: 70).
- Hiện 02 con dao trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
- Ngày 26/4/2024, chủ quán P là chị Lê Thị N giao nộp 01 (một) đĩa DVD - R 4.7GB16X, màu trắng, lưu trữ 01 (một) đoạn Video có tên 5307946200945.Mp4, có thời lượng 03 phút 34 giây ghi lại toàn bộ diễn biến vụ án tại Quán P vào ngày 02/4/2024. Được đánh số bút lục và chuyển kèm theo hồ sơ vụ án (BLÐT: 66, 67, 201).
* Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Phạm Minh Q đã bồi thường khắc phục hậu quả số tiền 5.000.000đồng; bị cáo Nguyễn Ngọc T1 đã tác động gia đình, mẹ bị cáo T1 là Hồ Thị X bồi thường số tiền 4.000.000đồng. Bị hại Lưu Văn Q1 yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm số tiền 21.570.233đồng (Hai mươi mốt triệu năm trăm bảy mươi nghìn hai trăm ba mươi ba đồng) bao gồm: Chi phí thuốc men điều trị; chi phí đi lại ăn ở khi điều trị và giám định; bồi thường thiệt hại về thể chất, tinh thần và 01 tháng ngày công lao động trong thời gian nghỉ làm điều trị và phục hồi thương tích. Các bị cáo Phạm Minh Q và Nguyễn Ngọc T1 đồng ý với mức bồi thường trên nhưng hiện tại chưa có điều kiện, các bị cáo sẽ thực hiện bồi thường cho bị hại sau. Bị hại Lưu Văn Q1 đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can Nguyễn Ngọc T1 (BLÐT: 142, 154 - 158).
* Về các vấn đề khác:
- Đối với hành vi sử dụng rượu bia, cầm ly và ghế nhựa ném gây mất trật tự công cộng tại Quán P của Lưu Văn Q1, Nguyễn Trọng K và Trần Lâm H: Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ với mức tiền phạt đối với Q1 là 1.500.000đồng, đối với K và H là 750.000 đồng. Hiện K đã đóng tiền phạt (BLĐT: 143, 163 - 164, 169).
- Đối với tài sản bị hư hỏng trong quá trình xô xát tại Quán P: Nguyễn Trọng K đã bồi thường số tiền 300.000đồng nên chủ quán là chị Lê Thị N không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và bị hại không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 16/CT-VKSCĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo truy tố Phạm Minh Q và Nguyễn Ngọc T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Bị hại không có ý kiến gì về tội danh của các bị cáo. Quá trình điều tra, bị cáo Q và gia đình bị cáo T3 đã bồi thường cho bị hại số tiền 9.000.000đồng, nay bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm số tiền 21.570.000đồng, tại cơ quan điều tra các bị cáo đồng ý bồi thường thêm khoản tiền bị hại yêu cầu, nhưng hiện chưa bồi thường. Nay, tại phiên tòa bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu bồi thường số tiền như trên và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị X không yêu cầu bị cáo T1 trả lại số tiền bà đã bồi thường thay cho bị cáo.
Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Minh Q và Nguyễn Ngọc T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm o Khoản 1 Điều 52; điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Minh Q mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
- Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 54; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T1 mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Về xử lý vật chứng:
- + Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bằng kim loại, màu nâu, đã rỉ sét, dài 50 cm, cán bọc gỗ, dài 5,5 cm, lưỡi dao dài 44,5 cm, bề rộng nhất của lưỡi dao là 5,6 cm và 01 (một) con dao bằng kim loại, màu đen, dài 50 cm, cán dao bọc gỗ, dài 5,5 cm, lưỡi dao dài 44,5 cm, bề rộng nhất của lưỡi dao là 5,6 cm, lưỡi dao bị sứt mẻ hình răng cưa.
- + Đối với 01 (một) đĩa DVD - R 4.7GB16X, màu trắng, lưu trữ 01 (một) đoạn Video có tên 5307946200945.Mp4, có thời lượng 03 phút 34 giây ghi lại toàn bộ diễn biến vụ án tại Quán P vào ngày 02/4/2024 là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, nên cần ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo và bị hại.
Người bào chữa cho bị cáo T1 trình bày: Thống nhất với nội dung, điều luật mà cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, thống nhất các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo phạm tội do bộc phát nhất thời; phạm tội lần đầu; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Ngoài ra, tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nên đề nghị áp dụng Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo T1 thống nhất với lời bào chữa của người bào chữa, không bổ sung ý kiến gì thêm.
Bị cáo Q không có ý kiến tranh luận.
Ông Q1 và bà X không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo Q nhận thấy hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo T1 không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ đó đủ cơ sở để xác định: Do có mâu thuẫn trong lúc ăn uống (nhậu) nên vào khoảng 03 giờ ngày 02/4/2024, tại Quán P trên đường N thuộc khu dân cư S, huyện C, bị cáo Phạm Minh Q đã sử dụng hung khí nguy hiểm là con dao bằng kim loại, màu nâu, đã rỉ sét, dài 50 cm, cán dao bọc gỗ, dài 5,5 cm, lưỡi dao dài 44,5 cm, bề rộng nhất của lưỡi dao là 5,6 cm do bị cáo Nguyễn Ngọc T1 cung cấp chém vào khuỷu tay phải của anh bị hại Lưu Văn Q1, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 19%. Do đó, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi đã xâm hại trực tiếp đến sức khỏe của bị hại, gây bất an cho quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình trị an tại địa bàn nơi xảy ra vụ án. Vì vậy, cần phải xử lý các bị cáo một mức án thật nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra nhằm mục đích giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[4] Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
[4.1] Về nhân thân: Bị cáo Q có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích; Bị cáo T1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[4.2] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Q là người khởi xướng để bị cáo T1 thực hiện hành vi phạm tội, tại thời điểm bị cáo T1 phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên bị cáo Q phải chịu tình tiết tăng nặng “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo điểm o Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Bị cáo T1 không có tình tiết tăng nặng.
[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường và tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; Bị cáo T1 phạm tội lần đầu và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, các bị cáo phạm tội cũng có một phần lỗi của bị hại nên cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo T1 đã trên 18 tuổi, nhưng tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, theo hướng có lợi cho bị cáo cần áp dụng Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo. Ngoài ra, bị cáo T1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa cho bị cáo áp dụng Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
[4.4] Về vai trò: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo Q là người khởi xướng, rủ rê bị cáo T1 và trực tiếp dùng dao gây thương tích cho bị hại nên có vai trò chính; Bị cáo T1 cung cấp hung khí cho bị cáo Q nhưng không trực tiếp gây thương tích cho bị hại nên có vai trò thứ hai.
[4.5] Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của từng bị cáo, xét thấy cần xử phạt bị cáo Q mức án cao hơn bị cáo T1 mới tương xứng và phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tổng số tiền bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường là 30.570.000đồng, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và bị hại đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc bồi thường thiệt hại, nên cần ghi nhận. Các bị cáo đã bồi thường số tiền 9.000.000đồng, vì vậy các bị cáo còn phải tiếp tục liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 21.570.000đồng (Hai mươi mốt triệu năm trăm bảy mươi ngàn đồng).
Bà Hồ Thị X (mẹ bị cáo T1) không có yêu cầu gì đối với bị cáo T1 về số tiền đã bồi thường cho bị hại nên không xét đến.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) con dao bằng kim loại, màu nâu, đã rỉ sét, dài 50 cm, cán bọc gỗ, dài 5,5 cm, lưỡi dao dài 44,5 cm, bề rộng nhất của lưỡi dao là 5,6 cm do bị cáo T1 giao nộp, không phải hung khí gây án và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) con dao bằng kim loại, màu đen, dài 50 cm, cán dao bọc gỗ, dài 5,5 cm, lưỡi dao dài 44,5 cm, bề rộng nhất của lưỡi dao là 5,6 cm, lưỡi dao bị sứt mẻ hình răng cưa là hung khí gây án nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) đĩa DVD - R 4.7GB16X, màu trắng, lưu trữ 01 (một) đoạn Video có tên 5307946200945.Mp4, có thời lượng 03 phút 34 giây ghi lại toàn bộ diễn biến vụ án tại Quán P vào ngày 02/4/2024 là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[7] Về các vấn đề khác:
- Đối với hành vi sử dụng rượu bia, cầm ly và ghế nhựa ném gây mất trật tự công cộng tại Quán P của Lưu Văn Q1, Nguyễn Trọng K và Trần Lâm H: Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ với mức tiền phạt đối với Q1 là 1.500.000đồng, đối với K và H là 750.000 đồng.
- Đối với tài sản bị hư hỏng trong quá trình xô xát tại Quán P: Nguyễn Trọng K đã bồi thường số tiền 300.000đồng nên chủ quán là chị Lê Thị N không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tại cơ quan điều tra, các bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại, căn cứ điểm f Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, các bị cáo không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bào chữa, bị hại và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Minh Q và Nguyễn Ngọc T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Căn cứ vào điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm o Khoản 1 Điều 52; điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Minh Q 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 24/5/2024.
- - Căn cứ vào điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 54; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T1 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 27/6/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 587 và Điều 590 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bị cáo và bị hại ông Lưu Văn Q1 về việc bồi thường thiệt hại như sau: Các bị cáo Q và T1 có nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại cho bị hại ông Quân số tiền 30.570.000đồng. Các bị cáo đã bồi thường số tiền 9.000.000đồng, vì vậy các bị cáo còn phải tiếp tục liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 21.570.000đồng (Hai mươi mốt triệu năm trăm bảy mươi ngàn đồng).
* Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bằng kim loại, màu nâu, đã rỉ sét, dài 50 cm, cán bọc gỗ, dài 5,5 cm, lưỡi dao dài 44,5 cm, bề rộng nhất của lưỡi dao là 5,6 cm và 01 (một) con dao bằng kim loại, màu đen, dài 50 cm, cán dao bọc gỗ, dài 5,5 cm, lưỡi dao dài 44,5 cm, bề rộng nhất của lưỡi dao là 5,6 cm, lưỡi dao bị sứt mẻ hình răng cưa.
- (Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/8/2024).
- - Lưu giữ trong hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa DVD - R 4.7GB16X, màu trắng, lưu trữ 01 (một) đoạn Video có tên 5307946200945.Mp4, có thời lượng 03 phút 34 giây ghi lại toàn bộ diễn biến vụ án tại Quán P vào ngày 02/4/2024.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Q và bị cáo T1 mỗi người phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm; không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Dung |
Bản án số 16/2024/HSST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 16/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Q- TH CYGTT
