TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUNPA TỈNH GIA LAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2024/HS-ST Ngày: 06/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUNPA, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Siu Lanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Nhàn
- Ông Nguyễn Đăng Khoa
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hợi – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Ngọc Ánh – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
- Rmah H'Y, sinh ngày 26/10/1991 tại I, Gia Lai; Nơi cư trú: P, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: JaRai; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nay W (đã chết) và bà Rmah H, có chồng Siu D, có hai người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Siu H'Đ, sinh ngày 02/02/1995 tại I, Gia Lai; Nơi cư trú: P, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc:JaRai; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Kpă T và bà Siu H1, có chồng Kpă N, có hai người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Siu H2' Đ: Bà Ngô Thị V, sinh năm 1989
Là trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm T3 tỉnh Gia Lai.
Địa chỉ: F T, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị hại: Chị Phạm Thị H3, sinh năm 1999.
Trú tại: Bôn Phu Ama Nher I, xã I, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
- Người làm chứng:
Anh Hồ Khắc T1, sinh năm 1989
Trú tại. Plei A, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Chị Đỗ Thị T2, sinh năm 1997
Trú tại: Tổ dân phố B, phường C, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Người phiên dịch: Ông Siu H4; dân tộc Jrai
Địa chỉ: Tổ I, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 05/05/2024, Rmah H' Y và Siu H2' Đ rủ nhau đến thị xã A, Gia Lai đi chơi và ăn uống. Khi đi H' Y mượn xe mô tô biển kiểm soát 81L1-000.93 của anh Siu Q (Sinh năm 1979, trú tại buôn P, xã C, I, Gia Lai) chở H' Đ đến thị xã A. Sau khi ăn uống tại chợ thị xã A, đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, H' Y và H' Đ đến mua quần áo tại cửa hàng quần áo "SILEM HOUSE" tại số A L, tổ D, phường Đ, thị xã A, Gia Lai do chị Đỗ Thị T2 (Sinh năm 1997, trú tại tổ B, phường C, thị xã A, Gia Lai) làm chủ. Sau khi vào lựa quần áo, H' Y vào khu thử đồ thì nhìn thấy tại móc treo quần áo bên trong khu thử đồ có 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128GB, màu xanh (điện thoại của chị Phạm Thị H3 (Sinh năm 1999, trú tại Bôn Phu Ama Nher I, I, A, Gia Lai) để quên, lúc này chị H3 đã ra quầy thanh toán tiền và rời khỏi shop). H' Y gọi H' Đ vào rồi chỉ chiếc điện thoại và nói “Điện thoại của khách để quên, có lấy không?”, cả hai chần chừ một lúc rồi H' Đ nói: “lấy đi”. Nghe vậy, H' Y lấy điện thoại rồi cất vào túi quần còn H' Đ kéo rèm che lại và cảnh giới cho H' Y. Sau đó, cả hai ra quầy thanh toán tiền mua quần áo rồi về nhà H' Y tại thôn P, xã I, I, Gia Lai. Khi về đến nhà, H' Y tháo ốp lưng, tháo sim điện thoại và mở điện thoại lên nhưng không được vì điện thoại khóa mật khẩu, cả hai mang điện thoại đến tiệm điện thoại “Anh T1” tại bôn Plei Ama R, xã I, I, Gia Lai) của anh Hồ Khắc T1 (sinh năm 1989, trú tại P, xã I, I, Gia Lai) để bẻ khóa nhưng không bẻ khóa được. Lúc này, H5 và H'Đ bán lại điện thoại cho anh T1
nhưng anh T1 từ chối vì nghi ngờ điện thoại không rõ nguồn gốc. Không bán được điện thoại, H5 cầm điện thoại về cất giấu tại nhà mình.
Chị Phạm Thị H3 sau khi phát hiện bị mất điện thoại nên quay lại cửa hàng quần áo “SILEM HOUSE' để tìm nhưng không thấy, khi xem lại camera của cửa hàng thì nghi ngờ có người lấy điện thoại của mình nên đến Cơ quan Công an trình báo. Đến ngày 07/5/2024, qua xác minh Cơ quan điều tra Công an thị xã A xác định Rmah H' Y và Siu H2' Đ đã lấy điện thoại của chị H3 nên tiến hành làm việc với H’ Y và H. Tại cơ quan điều tra, H' Y đã tự nguyện giao nộp lại điện thoại chiếm đoạt của chị H3.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 20/05/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A kết luận: Giá trị điện thoại di động nhãn hiệu I Phone 12 Pro Max 128GB, màu xanh, số sê-ri: HH6GV0F40D42, số IMEI: 35 559119 296620 7 tại thời điểm định giá là 12.590.000 đồng (mười hai triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng).
Vật chứng vụ án:
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128 GB màu xanh, số seri: HH6GV0F40D42, số IMEI: 35 559119 296620 7. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Phạm Thị H3 là chủ sở hữu hợp pháp. Đối với sim điện thoại do các bị cáo tháo ra và làm mất nên không thu giữ được.
Trách nhiệm dân sự:
Người bị hại Phạm Thị H3 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường. Ngày 06/8/2024, chị H3 có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự đối với các bị can.
Tại Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 08 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Rmah H5 và Siu H2’Đ về tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Rmah H5 và Siu H’Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Rmah H5 và Siu H2’Đ về tội Trộm cắp tài sản và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 BLHS cho cả hai bị cáo, Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo Rmah H’Y; Điều 36 BLHS đối với Siu H2’Đ, xử phạt các bị cáo:
Rmah H’Y từ 10 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 20 tháng đến 30 tháng.
Siu H’Đj từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo không có việc làm, thu nhập không ổn định, thuộc diện hộ nghèo và đang mắc bệnh nặng nên đề nghị miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo: Chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các điều luật đã viện dẫn và mức hình phạt đề nghị xử lý đối với bị cáo Siu H2'Ð.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo Rmah H’Y và Siu H2'Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào sáng ngày 05/5/2024 tại cửa hàng quần áo nữ SILEM HOUSE, số A L, phường Đ, A, Gia Lai, Rmah H' Y và Siu H2' Đ đã có hành vi trộm cắp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 12 Pro Max 128GB của chị Phạm Thị H3 có trị giá là 12.590.000 đồng (mười hai triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng).
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu để lén lút chiếm đoạt tài sản, các bị cáo đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại có tổng trị giá 12.590.000 đồng. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của các bị cáo Rmah H’Y và Siu H2’Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội.
[3] Đây là vụ án có đồng phạm đối với tội danh trộm cắp tài sản nhưng ở hình thức giản đơn, các bị cáo Rmah H' Y và Siu H' Đ cùng cố ý thực hiện một tội phạm. Tính chất, mức độ tham gia của các bị cáo thể hiện như sau:
Đối với bị cáo Rmah H' Y: Bị cáo là người giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo vừa là người khởi xướng, vừa là người thực hành đã trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Phạm Thị H3 trị giá 12.590.000 đồng đồng. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Cần thiết phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm mới đủ tác dụng răn đe.
Đối với bị cáo Siu H2' Đ: Bị cáo đã thống nhất ý chí, giúp sức cho Rmah H' Y thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo đã phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với mức độ đã tham gia.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi vụ án được phát hiện, quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo Y là hộ khó khăn tại địa phương và là lao động duy nhất trong gia đình. Bị cáo Siu H2'Đ là lao động chính, thuộc hộ nghèo và bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo. Với các tình tiết nói trên, cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xét về nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội thấy rằng: Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, không có việc làm, thu nhập ổn định; khi phát hiện sự sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu đã bộc phát thực hiện hành vi phạm tội.
Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo: HĐXX xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, cho nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 BLHS đối với bị cáo Rmah H’Y, cho bị cáo được hưởng án treo không ảnh hưởng đến công tác phòng chống tội phạm tại địa phương, vẫn có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Đối với bị cáo Siu H2’Đ chỉ cần áp dụng Điều 36 BLHS, phạt bị cáo cải tạo giam giữ và giao bị cáo cho gia đình, Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt. Bị cáo Siu H2’Đ không có việc làm, thu nhập không ổn định, thuộc diện hộ nghèo và đang mắc bệnh hiểm nghèo nên miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Phạm Thị H3 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[5] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với các bị cáo cơ bản phù hợp với kết quả nghị án của HĐXX nên được chấp nhận
[6] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên: Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Rmah H’Y và Siu H2’Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 BLHS cho cả hai bị cáo và Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo RMah H’Y; Điều 36 BLHS cho bị cáo Siu H2'Ð.
Xử phạt bị cáo Rmah H'Y 13 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 26 tháng, tính từ ngày tuyên án 06/9/2024. Giao bị cáo cho UBND xã I, huyện I giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử phạt bị cáo Siu H2'Đ 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án (Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện I, tỉnh Gia Lai).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Rmah H5 và bị cáo Siu H2’Đ, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo:
Các bị cáo quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đối với người bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Siu Lanh |
Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUNPA, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 16/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUNPA, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ào khoảng 08 giờ ngày 05/05/2024, Rmah H’ Y và Siu H2' Đ rủ nhau đến thị xã A, Gia Lai đi chơi và ăn uống. Khi đi H’ Y mượn xe mô tô biển kiểm soát 81L1-000.93 của anh Siu Q (Sinh năm 1979, trú tại buôn P, xã C, I, Gia Lai) chở H’ Đ đến thị xã A. Sau khi ăn uống tại chợ thị xã A, đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, H’ Y và H’ Đ đến mua quần áo tại cửa hàng quần áo "SILEM HOUSE" tại số A L, tổ D, phường Đ, thị xã A, Gia Lai
