TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2024/HNGĐ - ST Ngày: 13-6-2024 V/v: Không công nhận vợ chồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Minh Thêu
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Văn Lợi
Ông Trần Ánh Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Việt Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình: Bà Bùi Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 122/2024/TLST – HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1983; địa chỉ: Tiểu khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Vũ B, sinh năm 1974; địa chỉ: Tiểu khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị N trình bày:
Chị và anh Vũ B chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi về chung sống anh chị sống hạnh phúc cho đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Đến nay mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ B.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Vũ Ngọc N1, sinh ngày 15/02/2014 và cháu Vũ Tiến Đ, sinh ngày 16/9/2017. Vợ chồng anh chị thỏa thuận thống nhất sau khi ly hôn anh B sẽ là người trực tiếp nuôi cả hai con chung và chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị đơn anh Vũ B trình bày:
Tôi và chị Vũ Thị N tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng và không đăng ký kết hôn từ năm 2009, có tổ chức cưới theo phong tục địa phương. Quá trình chung sống vợ chồng chung sống hạnh phúc, những năm gần đây vì công việc, con cái còn nhỏ, cuộc sống vất vả nên có nhiều sự thay đổi làm cho vợ tôi thấy không thoải mái trong cuộc sống vợ chồng và gia đình. Nay chị N không còn tình cảm với tôi và có đơn yêu cầu ly hôn, tôi đồng ý ly hôn với chị N.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Vũ Ngọc N1, sinh ngày 15/02/2014 và cháu Vũ Tiến Đ, sinh ngày 16/9/2017. Vợ chồng chúng tôi thỏa thuận thống nhất sau khi ly hôn tôi sẽ là người trực tiếp nuôi cả hai con chung và chưa yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Vũ Thị N có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn có mặt tại phiên tòa.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; căn cứ Điều 9, Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận vợ chồng giữa chị Vũ Thị N và anh Vũ B.
Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về các vấn đề: con chung, tài sản chung và công nợ chung.
Về án phí: Chị Vũ Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Vũ Thị N có đơn đề nghị giải quyết ly hôn với anh Vũ B có hộ khẩu thường trú tại: Tiểu khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa chị Vũ Thị N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, Căn khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn theo quy định.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị N và anh Vũ B chung sống với nhau từ năm 2009 có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương đủ điều kiện kết hôn nhưng cho đến nay chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn. Lời trình bày của nguyên đơn được bị đơn anh Vũ B thừa nhận và phù hợp với xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình về việc chị N và anh B không đăng ký kết hôn tại địa phương. Đến nay chị N nhận thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục cuộc chung sống với anh B, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh B được ly hôn nhau, anh Vũ B đồng ý với ý kiến của chị N. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị N nhận thấy:
Tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về việc đăng ký kết hôn, cụ thể như sau:
“Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch”
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”
Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về việc giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, cụ thể:
“Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
Chị Vũ Thị N và anh Vũ B chung sống với nhau từ năm 2009 đến nay nhưng chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật cho nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chông theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình. Việc nguyên đơn không muốn chung sống với bị đơn vì cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc thì không ai có quyền ép buộc nguyên đơn phải chung sống với bị đơn. Xét thấy giữa chị N và anh B không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật mà chung sống với nhau như vợ chồng, do đó Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “không công nhận vợ chồng” giữa chị N và anh B.
Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị N2 và anh Vũ B đã thỏa thuận và thống nhất được các vấn đề sau đây:
- Về con chung: Giao cho anh Vũ B được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con chung là cháu Vũ Ngọc N1, sinh ngày 15/02/2014 và cháu Vũ Tiến Đ, sinh ngày 16/9/2017 cho đến khi hai cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Vũ B chưa yêu cầu chị N2 cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Vũ Thị N có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở quyền này. Chị N, anh B có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Vũ Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 271, và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 53, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn chị Vũ Thị N
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Vũ Thị N và anh Vũ B là vợ chồng.
2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể:
- Về con chung: Giao cho anh Vũ B được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con chung là cháu Vũ Ngọc N1, sinh ngày 15/02/2014 và cháu Vũ Tiến Đ, sinh ngày 16/9/2017 cho đến khi hai cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Vũ B chưa yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Vũ Thị N có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở quyền này. Chị N, anh B có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về án phí: Chị Vũ Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001030 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, chị N đã nộp xong án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Thêu |
Bản án số 16/2024/HNGĐ - ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH về không công nhận vợ chồng
- Số bản án: 16/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Nguyệt - Bình
