Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ SƠN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST

Ngày 30-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Kiên
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dềnh Bá Lồng và ông Trần Thanh Vân
  • Thư ký phiên tòa: Ông Quang Thái Tài- Thư ký Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Tuấn- Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2024 theo quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXX-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

* Nguyễn Hùng S- Tên gọi khác: Không, sinh ngày: 01 tháng 7 năm 1964, tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm H, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Quốc S1 (Chết) và bà Hoàng Thị H (C), vợ: Lê Thị L- sinh năm 1971; con: Có 02 (hai) người, lớn nhất 29 tuổi, nhỏ nhất 24 tuổi; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo Nguyễn Hùng S hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Hiện tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hùng S: Ông Lê Công T- Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt tại phiên toà.

* Người chứng kiến: Ông Lý Trung K, sinh năm 1984

Địa chỉ: Bản T, xã N huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05/3/2024, bị cáo Nguyễn Hùng S xuất cảnh sang nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào để mua bò sữa thải loại nhằm mục đích đem về Việt Nam bán kiếm lời. Sau khi sang đến Trang trại Vinamilk tại tỉnh Xiêng Khoảng, Lào thì bị cáo Nguyễn Hùng S đã mua được 17 con bò sữa với số tiền 586.520.000 kíp Lào. Sau khi mua được bò thì bị cáo Nguyễn Hùng S liên hệ với một người đàn ông Tên G để nhờ người này làm các thủ tục để đưa bò về Việt Nam, tuy nhiên vì không thống nhất được với nhau nên G không thực hiện được.

Đến ngày 15/3/2024, bị cáo Nguyễn Hùng S thuê một xe tải của người Lào vận chuyển 17 con bò từ Trang trại Vinamilk đến bãi đất thuộc bản Đin Đăm, cụm bản Noọng Hét T1, huyện N, tỉnh Xiêng Khoảng, Lào. Tại đây Nguyễn Hùng S được người đàn ông lái xe tải giới thiệu cho một người đàn ông để dắt bò từ Lào về Việt Nam theo đường tiểu ngạch, sau đó Nguyễn Hùng S liên hệ và thuê người này dắt bò về Việt Nam với giá 150.000 Kíp/1 con, sau khi dắt bò qua Việt Nam sẽ tập kết tại khu vực Cổng trời thuộc bản T, xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An. Sau khi thỏa thuận, Nguyễn Hùng S giao bò lại cho người đàn ông kia rồi nhập cảnh vào Việt Nam qua Cửa khẩu quốc tế N. Đến tối ngày 15/3/2024, bị cáo Nguyễn Hùng S đến điểm hẹn nhận lại bò rồi thanh toán tiền công dắt bò cho người đàn ông kia.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, trong lúc đang tìm xe tải để vận chuyển bò về nhà tại huyện T thì bị cáo Nguyễn Hùng S bị tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế N phối hợp với Công an huyện K phát hiện, kiểm tra. Quá trình kiểm tra, bị cáo Nguyễn Hùng S không xuất trình được giấy tờ chứng minh vận chuyển bò thông qua con đường chính ngạch là nhập khẩu qua Cửa khẩu theo đúng quy định nên tổ công tác đã yêu cầu bị cáo Nguyễn Hùng S về trụ sở để làm việc .

Ngày 17/3/2024, Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế N đã có công văn số 01 yêu cầu Hồi đồng định giá tài sản UBND huyện K định giá 17 con bò sữa (trong đó có 16 con còn sống, 01 con đã chết) giống cái, cụ thể:

STT Số xâu tai 01 Số xâu tai 02 STT Số xâu tai 01 Số xâu tai 02
138883102108147734
22107743430112101426397
338422210040122109143509
421054038974132101181362
52104265144142100079338
62107542797152105525130
721002016583162105655251
8210666561417210666
921100539215

Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-ĐGTS ngày 18/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản- UBND huyện K Kết luận:

- 16 (mười sáu) con bò còn sống, 01 con bò đã chết, giống cái, màu đen-trắng có giá là: 489.400.000 đồng (Bốn trăm tám mươi chín triệu, bốn trăm nghìn đồng).

Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Kỳ Sơn giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như bản cáo trạng số 17/CT- VKS- KS ngày 06/05/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về hình phạt: Áp dụng: Điểm c, khoản 2 Điều 188, điểm x, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Hùng S từ 300.000.000 (Ba trăm) triệu đồng đến 320.000.000(Ba trăm hai mươi) triệu đồng. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng: Quá trình quản lý, chăm sóc 17(mười bảy) con bò sữa là tang vật của vụ án được thực hiện theo quy định, tuy nhiên do ảnh hưởng của khí hậu cũng như thể trạng một số con yếu nên đã chết 05 (năm) con gồm: con số 01, 02, 07, 09, 14. Còn lại 12 con bò sữa còn sống đã được tổ chức bán đấu giá, thu về số tiền 345.650.000 đồng (ba trăm bốn mươi lăm triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), số tiền này hiện đang được tạm gửi tại tài khoản tạm giữ Công an huyện K. Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
  • - Về án phí: + Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh và điều luật áp dụng đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người có công với cách mạng, bị cáo lần đầu phạm tội, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn, bản thân bị cáo đang phải chăm sóc con đẻ hiện đang bị bệnh hiểm nghèo vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính để bị cáo có điều kiện chăm sóc con đẻ của mình và xử phạt bị cáo mức án thấp nhất mà đại diện V đã đề nghị và miễn án phí cho bị cáo. Bị cáo không có ý kiến gì thêm và đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận gì, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định của Cơ quan CSĐT Công an huyện K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên toà, bị cáo đề nghị Trợ giúp viên Nhà nước thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N bào chữa cho bị cáo và tại phiên toà người bào chữa đồng ý bào chữa cho bị cáo là đúng quy định của pháp luật và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người chứng kiến, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Do đó, sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, vật chứng đã được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 22 giờ ngày 15/3/2024, tại khu vực bản T, xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Đồn biên phòng Cửa khẩu quốc tế N- Bộ đội Biên phòng tỉnh N phối hợp với Công an huyện K phát hiện bị cáo Nguyễn Hùng S có hành vi buôn lậu 17(mười bảy) con bò sữa có giá trị 489.400.000 đồng (Bốn trăm tám mươi chín triệu, bốn trăm nghìn đồng).Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và điều khiển hành vi của mình, với hành vi buôn lậu 17(mười bảy) con bò sữa có giá trị 489.400.000 đồng (Bốn trăm tám mươi chín triệu, bốn trăm nghìn đồng) đã đủ yếu tố cấu thành tội "Buôn lậu" theo điểm c, khoản 2 Điều 188 BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng quy định pháp luật.

[2.2] Xét tính chất, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ:

- Về hành vi của bị cáo: Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến việc quản lý ngoại thương. Về ý thức chủ quan, bị cáo nhận thức được việc buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới là vi phạm pháp luật, nhưng thấy việc buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới dễ kiếm tiền trước mắt, nên bị cáo đã đi mua bò sữa để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến nền kinh tế đất nước, gây thất thu cho Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương, loại tội phạm này trong thời gian gần đây thường xuyên xảy ra gần biên giới, đường biên dài, đường mòn lối mở nhiều, lợi dụng sự sơ hở của cơ quan chức năng để buôn bán kiếm tiền bất chính, gây nhiều bức xúc trong nhân dân nên việc đưa bị cáo ra xét xử là nhằm tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân về việc chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật, việc có hình phạt nghiêm đối với bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật là rất cần thiết. Tuy nhiên cũng cần xem xét về điều kiện hoàn cảnh bị cáo, tình giảm nhẹ của bị cáo để xử phạt bị cáo mức án phù hợp để vừa răn đe phòng ngừa chung và vừa thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng: + Bị cáo Nguyễn Hùng S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo tham gia cách mạng và thuộc đối tượng thương binh hạng 4/4, quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo có thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất, cha của của bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến hạng nhì, mẹ bị cáo được Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen do có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Do vậy cần áp dụng điểm x, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[3] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[4] Đối với người đàn ông người đàn ông đã dắt thuê bò qua biên giới cho Nguyễn Hùng S, quá trình điều tra không xác định được danh tính cụ thể nên cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

[5] Về vật chứng: - Áp dụng các Điều 46, Điều 47 và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 345.650.000 đồng (ba trăm bốn mươi lăm triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) hiện đang được tạm gửi tại tài khoản tạm giữ Công an huyện K theo số tài khoản: 3949.0.9015243.0000 mở tại Kho bạc nhà nước huyện K, tỉnh Nghệ An.

[6] Về án phí: Bị cáo thuộc đối tượng thương binh 4/4, có công với cách mạng nên căn cứ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14nghị miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Hùng S.

[7] Về các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn tại phiên toà, lời bào chữa của luật sư và việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  • [1] Căn cứ vào điểm c, khoản 2 Điều 188 Bộ luật Hình sự.
  • - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hùng S phạm tội "Buôn lậu".
  • - Áp dụng: Điểm c, khoản 2 Điều 188, Điều 35, điểm s „v, x khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Về hình phạt: Áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Hùng S.
  • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hùng S 320.000.000 (Ba trăm hai mươi triệu) đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • [2] Xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 345.650.000 đồng (ba trăm bốn mươi lăm triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) hiện đang được tạm gửi tại tài khoản tạm giữ Công an huyện K theo số tài khoản: 3949.0.9015243.0000 mở tại Kho bạc nhà nước huyện K, tỉnh Nghệ An.
  • [3] Về án phí: Bị cáo là người có công với cách mạng nên căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  • [4]. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - VKSND huyện Kỳ Sơn
  • - Công an huyện K
  • - THA hình sự
  • - Chi cục THADS huyện K
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phan Văn K1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (buôn lậu)

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn lậu)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hùng Sơn phạm tội "Buôn lậu" theo khoản 2 Điều 188 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger