|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST Ngày 02-5-2024 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trang Thái Châu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hải;
- Ông Nguyễn Hồng Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Quốc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tuyết Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 194/2023/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 11/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2024 và Thông báo số: 01/TB-TA ngày 22/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm: 1996. Địa chỉ: Số A, khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Lê Thị Minh X, sinh năm: 2002. Địa chỉ: Số A, khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/10/2023 và tại biên bản lấy lời khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Quốc T đã trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Quốc T và chị Lê Thị Minh X tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1999. Đến năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 11/2021 ngày 24/02/2021. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do khi chị X đi làm công nhân tại công ty thì thường xuyên tụ tập bạn bè uống rượu sau khi tan ca, về đến nhà quá khuya, có khi không biết đường vào nhà nên anh T phải đi bồng bế vào nhà. Anh T đã khuyên can nhiều lần nhưng chị X không thay đổi nên từ đó vợ chồng thường xuyên gây gổ. Cha mẹ anh T góp ý cho chị X cũng không nghe và càng làm tới. Do chung sống với cha mẹ nên anh T cố gắng nhường nhịn, nhưng càng nhường nhịn thì chị X càng làm tới nên anh T và chị X không còn quan tâm hoặc nói chuyện với nhau. Đến khoảng Tết năm 2023 thì chị X tự ý bỏ nhà ra đi nhưng không thông báo cho anh T biết là đi đâu, anh T có điện gọi chị X về nhưng chị X không đồng ý. Đến tháng 7/2023, anh T đề nghị giải quyết ly hôn thì chị X yêu cầu cùng về Toà án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận là quê của chị X để giải quyết. Tuy nhiên, khi anh T và chị X đến để làm thủ tục nộp đơn ly hôn thì được biết chị X đã chuyển hộ khẩu về huyện B, tỉnh Tây Ninh và không có tạm trú tại huyện T nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tánh Linh mà thuộc Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh nhưng sau đó chị X không về huyện B để giải quyết mà đi nơi khác sinh sống cho đến nay. Anh T cho rằng, mâu thuẫn vợ chồng không thể hoà giải, hàn gắn; tình cảm vợ chồng không còn; mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, anh T yêu cầu được ly hôn với chị X.
- Về con chung: Anh T xác định giữa anh T và chị X không có con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh T trình bày giữa anh T và chị X không có tài sản chung và nợ chung.
Bị đơn – Chị Lê Thị Minh X đã được Toà án thông báo văn bản hợp lệ nhưng chị X vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà:
Về tố tụng:
- Quá trình thụ lý, giải quyết cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà; nguyên đơn đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được Toà án thông báo văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do là chưa chấp hành và chưa thực hiện đúng qui định của pháp luật.
- Nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn là đúng qui định.
- Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn là đúng qui định.
Về việc nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Quốc T đối với chị Lê Thị Minh X.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Anh T trình bày không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Anh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị X không phải chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Anh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị X là tranh chấp về ly hôn được qui định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo tài liệu thể hiện, chị Lê Thị Minh X, sinh năm 2002, có địa chỉ cư trú tại: Số A, khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu theo qui định khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Quá trình giải quyết, chị X đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị X. Anh T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, anh T và chị X tự nguyện chung sống như vợ chồng, có đăng ký kết hôn và được UBND thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 11/2021 ngày 24/02/2021. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị X là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu ly hôn của anh T thì thấy rằng: Anh T trình bày giữa anh T và chị X có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bắt nguồn từ chị X, giữa anh T và chị X đã nhiều lần hoà giải để hàn gắn nhưng không thành nên ly thân từ trước tháng 7/2023 cho đến nay. Lời trình bày của anh T phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ.
Chị X đã được Toà án thông báo văn bản hợp lệ nhưng chị X vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến, điều đó cho thấy chị X không có thiện chí hàn gắn gia đình.
Từ những nhận định nêu trên, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa anh T và chị X đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T yêu cầu ly hôn với chị X là có căn cứ theo qui định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Anh T trình bày giữa anh T và chị X không có con chung nên không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Anh T trình bày giữa anh T và chị X không có tài sản chung và nợ chung nên không xem xét giải quyết.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị X không phải chịu án phí dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Quốc T đối với chị Lê Thị Minh X. Anh Nguyễn Quốc T được ly hôn với chị Lê Thị Minh X.
- Về con chung: Anh Nguyễn Quốc T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Quốc T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Quốc T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, cho khấu trừ số tiền tạm ứng án phí anh Nguyễn Quốc T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0012055 ngày 29/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Cầu. Chị Lê Thị Minh X không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Quốc T và chị Lê Thị Minh X có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp pháp.
- Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trang Thái Châu |
Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 16/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc Toản - Lê Thị Minh Xuân
