Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HS-ST

Ngày 16 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thương Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ng Thị Việt Hà và bà Hoàng Thị Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Quàng Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2023/HSST, ngày 18 tháng 10 năm 2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HS, ngày 31 tháng 10 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lò Văn Ng; (Tên gọi khác: Không có); Sinh năm 1997 tại tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản Ph, xã M P, thành phố B, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn L, đã chết và bà Lò Thị B; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 06/11/2018 Ng bị Tòa án nhân dân quận Long Biên, TP Hà Nội, xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tính đến ngày 02/7/2023 Ng chấp hành xong toàn bộ Bản án và đã được xóa án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 03/7/2023, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Cà Văn Th; (Tên gọi khác: Không có) - sinh năm 1999; Nơi sinh: Tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản Ph, xã M P, thành phố B, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cà Văn D và bà Cà Thị B; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 06/11/2018 Th bị Công an huyện Điện Biên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Đánh nhau bằng hình thức phạt tiền 750.000đồng. Th đã chấp hành xong hình phạt và được coi như chưa có tiền sự.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 02/7/2023, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

3. Họ và tên: Lò Văn Chg; (Tên gọi khác: Không có); Sinh năm 1994 tại tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: B K, xã M P, thành phố B, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn T và bà Lò Thị B; Vợ: Cà Thị Th, (đã ly hôn) con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2019; Tiền sự: Không;

Tiền án: 01 tiền án, Bản án số 182/2021/HS-ST ngày 31/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, xử phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 19/01/2023 bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

Nhân thân: Ngày 07/6/2019 Chg bị Công an huyện Điện Biên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Trộm cắp tài sản, bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng. Chg đã chấp hành xong hình phạt và được coi như chưa có tiền sự.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 02/7/2023, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cà Văn Th, Lò Văn Chg và Lò Văn Ng là những người nghiện chất ma túy, thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Để có ma túy sử dụng, Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 02/7/2023, Lò Văn Ng đến nhà Cà Văn Th, lúc này đang có Lò Văn Chg đang ở đó. Ng rủ Th và Chg đi tìm mua ma tuý về sử dụng thì cả hai đồng ý. Th dùng xe mô tô BKS 27X1-013.52 mượn của chú ruột là anh Cà Văn Chính, chở theo Chg và Ng đến khu vực đầu bản Lọng Háy, xã Mường Phăng thì dừng xe. Tại đây Chg góp 20.000 đồng đưa cho Ng, Ng góp 30.000 đồng sau đó một mình đi bộ vào khu vực giữa bản, gặp một người phụ nữ không quen biết đang đứng ở đường dân sinh, hỏi mua của người này được một gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa 0,15 gam Heroine, với giá 50.000 đồng. Mua được ma tuý, Ng cầm ra đưa cho Cà Văn Th, Th cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái, điều khiển xe chở theo Chg và Ng ngồi ở phía sau, đi tìm chỗ để sử dụng ma tuý. Đến hồi 17 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi được khoảng 50m thì bị tổ công tác phát hiện. Lúc này Ng ngồi sau cùng đã bỏ chạy, cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng đối với Cà Văn Th, Lò Văn Chg. Ngày 03/7/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lò Văn Ng. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Lò Văn Ng đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của Ng phù hợp với lời khai của Cà Văn Th, Lò Văn Chg và diễn biến khách quan của sự việc.

Vật chứng thu giữ gồm: 0,15 gam Heroine, 01 mảnh giấy bạc màu vàng.

Tại bản kết luận giám định số: 690/KL-KTHS ngày 30/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu H gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Khối lượng vật chứng: 0,15 gam Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy STT: 9, mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, sau khi giám định hoàn lại 0,11 gam Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 154/CT-VKSTPĐBP ngày 16/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố các bị cáo Lò Văn Ng, Lò Văn Chg, Cà Văn Th về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58/BLHS: Xử phạt bị cáo Lò Văn Ng từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58/BLHS: Xử phạt bị cáo Cà Văn Th từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17, Điều 58/BLHS: Xử phạt bị cáo Lò Văn Chg từ 18 tháng đến 21 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, do các bị cáo không có khả năng thi hành.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 0,11 gam Heroine còn lại sau khi giám định, 01 mảnh giấy bạc màu vàng.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về phần luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với Biên bản bắt người quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng chất ma tuý; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, bản tự khai, các bản cung, biên bản ghi lời khai, có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 17 giờ 40 phút ngày 02/7/2023, tại khu vực bản Lọng Háy, xã Mường Phăng, thành phố Điện Biên Phủ, Cà Văn Th, Lò Văn Ng, Lò Văn Chg có hành vi cất giấu trái phép 0,15 gam Heroine, mục đích để Th, Chg, Ng cùng sử dụng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ 01 năm đến 05 năm:

...c) Heroine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam"

Đây là vụ án đồng phạm, các bị cáo không có sự phân công vai trò trách nhiệm cụ thể cho từng người nên vụ án không có tổ chức. Bị cáo Ng là người khởi sướng việc mua ma túy, các bị cáo đã cùng nhau góp tiền, cùng đi mua ma túy. Các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tôi.

[2] Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của các bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, các bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên các bị cáo đã đi mua ma túy cất giấu để phục vụ nhu cầu bản thân sử dụng, các bị cáo đã coi thường pháp luật. Chính vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần Th phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo, để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa Chg cho toàn xã hội.

[3]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

[3.1]. Bị cáo Lò Văn Ng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Ng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

- Nhân thân: Ngày 06/11/2018 Ng bị Tòa án nhân dân quận Long Biên, TP Hà Nội, xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 18/11/2019 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, tính đến ngày 02/7/2023 Ng chấp hành xong toàn bộ Bản án và đã được xóa án tích. Bị cáo có nhân thân xấu.

[3.2]. Bị cáo Cà Văn Th không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Th: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

Nhân thân: Ngày 06/11/2018 Th bị Công an huyện Điện Biên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Đánh nhau bằng hình thức phạt tiền 750.000đồng. Th đã chấp hành xong hình phạt và được coi như chưa có tiền sự. Bị cáo có nhân thân xấu.

[3.3]. Bị cáo Lò Văn Chg đã bị kết án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý lên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Chg: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo Chg đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

Nhân thân: Ngày 07/6/2019 Chg bị Công an huyện Điện Biên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Trộm cắp tài sản, bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đồng. Chg đã chấp hành xong hình phạt và được coi như chưa có tiền sự.

[4]. Hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần Th phải áp dụng mức hình phạt tù phù hợp, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cho các bị cáo có thời gian cai nghiện để trở thành công dân tốt, có ý thức tuân thủ pháp luật.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng... Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị và các bị cáo đi chấp hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo vì các bị cáo không có khả năng thi hành.

[6]. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,11 gam Heroine còn lại sau khi giám định, 01 mảnh giấy bạc màu vàng theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave KVRP, BKS 27X1-013.52, màu sơn đen-xám là của anh Cà Văn Chính cho Cà Văn Th mượn, anh Chính không biết Th sử dụng xe vào việc phạm tội nên CQĐT đã trả lại xe cho anh Chính. Xét thấy việc trả xe là có căn cứ, HĐXX chấp nhận.

[7]. Các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết đã bán ma túy cho bị cáo Ng, quá trình điều tra không xác minh làm rõ được, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập nên hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[8]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[9]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Đối với bị cáo Lò Văn Ng áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Cà Văn Th áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Lò Văn Chg áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố các bị cáo Lò Văn Ng, Cà Văn Th, Lò Văn Chg phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
    • - Xử phạt bị cáo Lò Văn Ng 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (03/7/2023).
    • - Xử phạt bị cáo Cà Văn Th 01 (Một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (02/7/2023).
    • - Xử phạt bị cáo Lò Văn Chg 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (02/7/2023).
  2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,11 gam Heroine còn lại sau khi giám định, 01 mảnh giấy bạc màu vàng.

    (Vật chứng đã được Công an thành phố Điện Biên Phủ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/10/2023);

    - Chấp nhận biên bản trao trả tài sản ngày 26/7/2023.

  4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm;
  5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/11/2023).

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSNDTPĐBP;
  • - VKSND tỉnh ĐB;
  • - Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP
  • - Cơ quan THAHS TP ĐBP;
  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - Trại tạm giam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh ĐB;
  • - Chi cục THADS TP ĐBP;
  • - HS THAHS;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 16/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo Nguyễn 01 năm 03 tháng ; Thiết 01 năm 02 tháng tù; Chung 01 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger