Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 20-6-2024.

“V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Toàn.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Viết Anh

Ông Hoàng Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hà Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 11/2024/TLPT-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 14/2024/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 10/2024/QĐXXPT-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà và ấn định mở lại phiên toà giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Thu H, sinh năm 1983.

Địa chỉ: P, chung cư N, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt

* Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Tổ A, khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án nguyên đơn chị Vũ Thị Thu H trình bày:

Chị và anh K tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 13/3/2011 tại UBND phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng về Hà Nội sinh sống được thời gian thì anh K về Việt Trì ở. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được vài năm đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không thống nhất được nơi làm việc của anh K. Tuy đã được gia đình khuyên giải nhưng hai bên không khắc phục được mâu thuẫn. Do mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh K.

Bị đơn anh Nguyễn Tuấn K trình bày: Quá trình kết hôn, chung sống, thời gian mâu thuẫn và sống ly thân như chị H trình bày ở trên là đúng. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh khoảng năm 2016, do anh chưa sắp xếp được về chung sống cùng chị H, anh công tác và ở tại V, chị H công tác và sinh sống tại Hà Nội. Do mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 đến nay, cuối tuần anh thường xuống Hà Nội với vợ con. Nay, chị H yêu cầu ly hôn, quan điểm của anh mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nhưng vì tình cảm và vì 02 con nên anh muốn vợ chồng hòa giải. Tuy nhiên nếu chị H cương quyết ly hôn thì anh sẽ đồng ý ly hôn theo bản án, quyết định của Tòa án.

Về con chung: Chị Vũ Thị Thu H và anh Nguyễn Tuấn K thống nhất xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Khánh C, sinh ngày 31/01/2012 và Nguyễn Huy K1, sinh ngày 22/5/2014.

Quan điểm của chị H: Đề nghị Tòa án được trực tiếp nuôi cả 02 con chung do 02 con chung đang học tập, ở cùng với chị tại thành phố Hà Nội. Không đề nghị anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị trình bày chị có chỗ ở và thu nhập ổn định, từ khi hai con chung sinh ra đều do chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, các cháu có môi trường sống, học tập ổn định, đều chăm ngoan học giỏi; chị có thu nhập khoảng 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng)/ tháng, hiện đang làm tại Ngân hàng TMCP N1. Nếu chị trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, có mẹ đẻ chị hỗ trợ chị trong việc nuôi con, mà từ khi 02 con được sinh ra mẹ đẻ chị vẫn là người trực tiếp hỗ trợ chị trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con. Còn nếu để anh K nuôi con thì các con phải thay đổi môi trường sống, môi trường học tập thiếu đi sự chăm sóc của mẹ sẽ anh hưởng không tốt cho tinh thần và sự pháp triển bình thường của các con; hiện anh K đang ở chung với mẹ đẻ bà cũng đã cao tuổi nên không thể hỗ trợ cho anh K trong việc nuôi con.

Quan điểm của anh K: Đề nghị được nuôi 02 con chung, không đề nghị chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Nếu không được nuôi cả 02 con chung thì đề nghị được nuôi con chung là cháu Nguyễn Huy K1, chị H nuôi cháu Nguyễn Khánh C. Anh đang làm công chức tại Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh P với thu nhập khoảng 8.000.000đ/tháng, hiện đang ở cùng mẹ đẻ. Còn để chị H nuôi thì chị thường xuyên đi công tác, thời gian chăm sóc con hạn chế, chủ yếu là do mẹ đẻ chị chăm sóc, hiện nay bà cũng có tuổi hay ốm đau nên chỉ trông nhà, các cháu chủ yếu tự học; còn ở H cháu không có thời gian tiếp xúc với các bạn cùng trang lứa nhiều như ở V.

Chị H cho rằng môi trường học tập của các con ở Hà Nội vẫn đảm bảo các cháu được tiếp xúc với bạn bè; mẹ đẻ của chị hiện nay 63 tuổi là cán bộ Ngân hàng đã nghỉ hưu, vẫn mạnh khỏe, mẹ chị chỉ bị tại nạn giao thông đã phục hồi, bà vẫn thường xuyên chăm sóc dạy các cháu học; về phía các cháu khi được nghỉ lễ, tết, hè hoặc gia đình anh K có việc chị vẫn chủ động đưa các cháu về nhà anh K; còn anh K thu nhập cũng được 8.000.000đ/tháng nếu được nuôi con cũng sẽ vất vả để có thêm thu nhập để nuôi con.

Anh K cho rằng từ khi vợ chồng mâu thuẫn anh 01 lần đề cập được nuôi 01 con, nhưng chị H không đồng ý. Nếu 02 con ở với anh, anh đủ điều kiện nuôi, thu nhập ổn định, ngoài ra có mẹ đẻ và anh chị em hỗ trợ; mẹ đẻ anh hiện nay 74 tuổi, cũng có thu nhập khoảng 4.000.000đồng; ngoài ra anh còn có khoản thu nhập không thường xuyên hơn 1.000.000đồng. Ở với anh con sẽ được gần gũi anh em họ hàng, anh cũng không cần quá nhiều thời gian để có thêm thu nhập. Còn chị H nuôi con không có thời gian để dạy con học.

Quan điểm của 02 con chung đều có nguyện vọng ở với chị H; 02 cháu cho rằng điều kiện ăn, học, ở của các cháu hiện nay rất tốt; mẹ cháu nuôi các cháu có bà ngoại hỗ trợ.

Chị H vẫn xin được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Còn anh K yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con nếu anh được nuôi 02 con, còn nếu mỗi người nuôi 01 con thì anh không yêu cấp cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp gia đình: Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 14/2024/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã Quyết định:

Căn cứ Điều 56, Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vũ Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Tuấn K.

2. Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị Thu H được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Khánh C, sinh ngày 31/01/2012 và Nguyễn Huy K1, sinh ngày 22/5/2014, kể từ khi ly hôn đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị H không yêu cầu.

Chị H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Bản án còn tuyên về án phí, quyền thi hành án và quyền kháng cáo.

Ngày 04/3/2024, anh Nguyễn Tuấn K có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị cho anh trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Huy K1.

Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, anh Nguyễn Tuấn K cung cấp: 01 Đơn xin xác nhận ngày 16/5/2024 có xác nhận của UBND phường V với nội dung anh có chỗ ở ổn định và lâu dài cùng mẹ đẻ là bà Quách Thị Q (chủ hộ) tại Số nhà B đường H, tổ A, khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Chị Vũ Thị Thu H cung cấp: 01 Đơn trình bày nguyện vọng của cháu Nguyễn Huy K1 và 01 Đơn trình bày nguyện vọng của cháu Nguyễn Khánh C với nội dung muốn được ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn; 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Nguyễn Thị Thu H1, 01 Giấy khám sức khỏe của bà Nguyễn Thị Thu H1 và 03 Giấy báo có của Ngân hàng TMCP C1 (bà H1 là mẹ đẻ của chị H), 02 Giấy khen của cháu Nguyễn Khánh CNguyễn Huy K1, .

Tại phiên tòa phúc thẩm anh Nguyễn Tuấn K giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; chị Vũ Thị Thu H đề nghị giữ nguyên Bản án của cấp sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Thẩm phán, thư ký thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng và các văn bản pháp luật, kể từ khi thụ lý giải quyết vụ việc để xét xử phúc thẩm cho đến trước thời điểm nghị án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không châp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Tuấn K về việc xin được nuôi cháu Nguyễn Huy K1 và giữ nguyên Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 21/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Về án phí: Anh K phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật. (Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của anh Nguyễn Tuấn K là bị đơn làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Nội dung kháng cáo trong phạm vi xét xử của bản án sơ thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét nội dung này theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung kháng cáo:

Anh Nguyễn Tuấn K kháng cáo Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 21/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì với các nội dung: Không đồng ý với quyết định của cấp sơ thẩm giao cả hai con chung là Nguyễn Khánh CNguyễn Huy K1 cho chị Vũ Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Đề nghị cấp phúc thẩm giao con chung Nguyễn Huy K1 cho anh Nguyễn Tuấn K là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, không yêu cầu chị Vũ Thị Thu H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét kháng cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn của chị H và anh K là chính đáng. Tuy nhiên việc giao con chung cho người trực tiếp nuôi dưỡng cần căn cứ vào mức thu nhập, môi trường công việc, điều kiện và khả năng thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục để con được phát triển tốt nhất về thể lực, trí tuệ, đạo đức và các yếu tố khác như từ khi anh K và chị H kết hôn với nhau khi đó anh K công tác tại V, chị H công tác tại Hà Nội. Những ngày nghỉ cuối tuần anh K về ở với chị H tại Hà Nội, hai cháu CK1 đều ở với chị H ở Hà Nội, chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung từ khi sinh ra cho đến nay đều đảm bảo phát triển về mọi mặt từ thể chất đến tinh thần cho hai cháu.

Xét về điều kiện kinh tế: Về mức thu nhập của chị H và anh K đều có chỗ ở và thu nhập ổn định và đều có đủ điều kiện nuôi con, Tại phiên toà phúc thẩm anh K cho rằng chị hằng nuôi hai con không đảm bảo công việc học tập của các cháu nhưng căn cứ váo chứng cứ do chị H cung cấp là học bạ của hai cháu đề học tập tốt, mặt khác quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm hai con chung của anh chị đều có nguyện vọng tha thiết xin được ở với mẹ. Vì vậy nếu tách riêng hai cháu sẽ gây xáo trộn cuộc sống và ảnh hưởng đến học tập của các cháu, cấp sơ thẩm đã giao hai cháu CK1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Do đó, không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Tuấn K. Cần giữ nguyên Bản án của cấp sơ thẩm.

[3] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của anh K không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp cần chấp nhận.

[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không châp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Tuấn K về việc xin được nuôi cháu Nguyễn Huy K1.

Giữ nguyên Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 21/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

2. Căn cứ Điều 56, Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vũ Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Tuấn K.

Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị Thu H được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Khánh C, sinh ngày 31/01/2012 và Nguyễn Huy K1, sinh ngày 22/5/2014, kể từ khi ly hôn đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị H không yêu cầu.

Chị H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về án phí sơ thẩm: Chị Vũ Thị Thu H phải chịu cả 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005533 ngày 18/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.

Về án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Tuấn K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận anh K đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005592 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

“Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND TP. Việt Trì;
  • - Chi cục THADS TP. ;
  • - TAND TP. Việt Trì;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Văn Toàn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 17/7/2023

V/v: Tranh chấp

hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu T

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Hùng Tuấn

2. Bà Đỗ Thị Vân Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích H2 – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên Tòa: Bà Đinh Diễm Kiều T1 – Kiểm sát viên VKSND thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Trong các ngày 17/02/2023, 09/03/2023 và ngày 17/7/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Việt trì xét xử công khai vụ án thụ lý số: 408/2022/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc ” Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXX-ST ngày 03 tháng 02 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 05A/2023/QĐST – HNGĐ ngày 17/02/2023, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 47/2023/QÐST – HNGĐ ngày 09/3/2023, Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 05/2023/QÐST – HNGĐ ngày 10/4/2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số 35/2023/TB – TA ngày 29/06/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 1994.

ĐKHKTT: Đội 1, M, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Chỗ ở hiện nay: Phòng C, Chung cư sinh viên – phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

2. Bị đơn: Anh Phạm Hai H3, sinh năm 1992.

ĐKHKTT và chỗ ở: Đội 1, M, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

(Chị M, anh H3 có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày:

Chị và anh Phạm Hai H3 có tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 28/4/2017 tại trụ sở UBND phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp về tính cách, không cùng quan điểm sống. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được chị Trần Thị M đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Hai H3.

Bị đơn anh Phạm Hai H3 trình bày:

Anh đồng ý với trình bày của chị Trần Thị M về việc kết hôn, việc tự do tìm hiểu trong hôn nhân. Theo anh H3 nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do từ ngày 01/6/2022 gia đình anh có đi du lịch biển tại Quảng Ninh cùng với bạn thân của anh H3, rạng sáng ngày 02/6/2022 anh H3 phát hiện chị M đi cùng bạn thân của anh, đi đâu, làm gì anh không biết. Sau sự việc đó, anh H3 đã tha thứ cho chị M về nhà để chăm sóc hai con nhưng được một thời gian thì chị M đòi ra ngoài làm ăn. Do con còn nhỏ nên anh H3 đã khuyên bảo chị M nhiều lần để con lớn rồi hãy đi làm nhưng chị M vẫn tự ý bỏ ra ngoài, bỏ lại con và gia đình từ tháng 8/2022 cho đến nay. Hiện nay anh H3 xác định không còn tình cảm với chị M, chị M xin ly hôn anh H3 đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị Trần Thị M và anh Phạm Hai H3 thống nhất xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Minh H4, sinh ngày 19/9/2017 và cháu Phạm Kiều Bảo N, sinh ngày 22/9/2019. Ly hôn, chị Trần Thị M đề nghị: Giao cháu Phạm Kiều Bảo N cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Phạm Minh H4 cho anh H3 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Anh Phạm Hai H3 đề nghị được nuôi cả hai cháu và không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh vì hai cháu còn quá nhỏ, đang sống ổn định cùng với anh và ông bà nội. Cháu N lại hay ốm đau, mỗi lần ốm đều phải nhập viện, anh H3 sống cùng bố mẹ đẻ là ông Phạm Văn Q1 và bà Triệu Thị P nên sẽ có người hỗ trợ chăm sóc, nuôi dưỡng và đưa đón các cháu đi học. Thu nhập của anh khoảng 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng)/ tháng nên anh có đủ điều kiện nuôi hai cháu. Chị M hiện đang đi thuê nhà, thu nhập không ổn định sẽ không có thời gian chăm sóc cho con. Hai cháu còn nhỏ nên anh không muốn tách các cháu ra. Nếu chị M muốn nuôi cả hai cháu anh cũng đồng ý với điều kiện chị M phải để hai cháu sống ở V để anh tiện đi lại thăm nom các cháu còn chị M đưa hai cháu về quê ngoại thì anh không đồng ý. Nếu được nuôi cả hai con chung anh H3 không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Bố mẹ đẻ anh H3 là ông Phạm Văn Q1 và bà Triệu Thị P cũng cam kết tạo điều kiện về chỗ ở và hỗ trợ anh H3 trong việc chăm sóc các cháu.

Chị M trình bày: Chị có đủ điều kiện để nuôi con vì hiện nay chị đã mở cửa hàng làm đẹp riêng, thu nhập khoảng 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng)/ tháng, ngoài ra chị còn kinh doanh mỹ phẩm online với thu nhập 8.000.000đ (tám triệu đồng) /tháng. Hiện nay, chị M đã thuê 01 căn hộ ở khu chung cư sinh viên phường M thành phố V để làm nơi sinh hoạt ăn ở, chị M khẳng định chị có đủ điều kiện về chỗ ở, về thu nhập để chăm sóc tốt cho cháu N nên chị không đồng ý giao cả 02 con chung cho anh H3 nuôi dưỡng. Chị M đề nghị được nuôi cháu Phạm Kiều Bảo N.

Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp gia đình: Chị Trần Thị M và anh Phạm Hai H3 thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị Trần Thị M và anh Phạm Hai H3 giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Đại diện VKSND thành phố Việt Trì tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc chấp hành pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, đại diện VKSND thành phố Việt Trì đề nghị Tòa án căn cứ Điều 51, 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội xử:

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị M và anh Pham Hai H3.

Về con chung: Giao cháu cháu Phạm Minh H4, sinh ngày 19/9/2017 cho anh Phạm Hai H3 trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Phạm Kiều Bảo N, sinh ngày 22/9/2019 cho chị Trần Thị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu H4, cháu N thành niên và có khả năng lao động. Anh Phạm Hai H3 và chị Trần Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Hai bên có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Do anh H3, chị M không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Thị M tự nguyện chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, đây là sự tự nguyện của chị M cần công nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì giải quyết ly hôn anh Phạm Hai H3, anh Phạm Hai H3 có hộ khẩu thường trú tại: Đ, M, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp về việc ly hôn, nuôi con chung giữa chị Trần Thị M và anh Phạm Hai H3 là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

[1.2] Về trình tự thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của cho các đương sự, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Trần Thị M và anh Phạm Hai H3 tự nguyện tìm hiểu, đã đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nên quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh H3 là hôn nhân hợp pháp. Nay chị M xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H3. Tại bản tự khai, các phiên họp hòa giải, và tại phiên tòa hôm nay anh Phạm Hai H3 cũng xác định vợ chồng không còn tình cảm nên đồng ý ly hôn với chị Trần Thị M. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống giữa chị M và anh H3 có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và không còn tin tưởng lẫn nhau. Hiện nay cả anh H3, chị M đều đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Xét thấy việc anh H3, chị M thuận tình ly hôn là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình nên được công nhận.

[2.2] Về con chung:

Chị Trần Thị M và anh Phạm Hai H3 thống nhất xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Minh H4, sinh ngày 19/9/2017 và cháu Phạm Kiều Bảo N, sinh ngày 22/9/2019. Chị Trần Thị M đề nghị Tòa án giao cháu Phạm Kiều Bảo N cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Phạm Minh H4 cho anh H3 trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Anh Phạm Hai H3 đề nghị được nuôi cả hai cháu và không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

HĐXX xét thấy, việc nuôi con vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của cha mẹ, Anh H5 và chị M có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc nuôi dưỡng chăm sóc cháu H4 và cháu N. Anh H5 cho rằng chị M không đủ điều kiện để nuôi con, nếu giao cháu N cho chị M nuôi sẽ không đảm bảo cho cháu được chăm sóc tốt nhất hơn nữa hiện nay cả hai cháu đang sống ổn định cùng anh và ông bà nội, nếu tách hai cháu ra sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của các cháu, cháu N còn quá nhỏ, lại hay đau ốm nếu ở cùng anh sẽ có điều kiện chăm sóc tốt hơn vì anh ở cùng với bố mẹ đẻ, ông bà sẽ hỗ trợ anh chăm sóc và đưa đón cháu đi học. Căn cứ vào các tài liệu do chị M xuất trình, hiện nay chị M đang thuê 01 ngôi nhà liền kề để kinh doanh làm đẹp tại địa chỉ tổ D, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đối diện với bệnh viện S, tỉnh Phú Thọ với thu nhập 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng)/tháng, ngoài ra chị M còn kinh doanh mỹ phẩm online với thu nhập 8.000.000đ (tám triệu đồng)/tháng, chị M cũng đã thuê nhà ở ổn định tại khu chung cư sinh viên phường M, thành phố V. Như vậy có căn cứ xác định chị M đủ điều kiện về chỗ ở và thu nhập để đảm bảo nuôi dưỡng và chăm sóc cho cháu N, hơn nữa cháu N còn nhỏ lại là con gái, rất cần sự chăm sóc trực tiếp của mẹ nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị M giao cháu Phạm Kiều Bảo N cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Phạm Minh H4 cho anh H5 trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau là phù hợp với quy định của luật hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp:

Chị Trần Thị M và anh Phạm Hai H3 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí sơ thẩm:

Chị Trần Thị M tự nguyện chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, không yêu cầu anh Phạm Hai H3 phải chịu. Xét thấy đây là sự tự nguyện của chị M nên được công nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị M và anh Phạm Hai H3.

2.Về con chung: Giao cháu Phạm Kiều Bảo N, sinh ngày 22/9/2019 cho chị Trần Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu Phạm Minh H4, sinh ngày 19/9/2017 cho anh Phạm Hai H3 trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Chị Trần Thị M và anh Phạm Hai H3 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Chị Trần Thị M và anh Phạm Hai H3 có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị M tự nguyện chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị M đã nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009569 ngày 17/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phốViệt Trì.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Các đương có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND thành phố Việt Trì;
  • - Chi cục THA DS TP Việt Trì;
  • - UBND phường Minh Nông, TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HNGĐ-PT ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 16/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger