Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢN BẠ

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HS-ST

Ngày: 19-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tô Đình Vĩ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lệnh Xuân Chính

Bà Lục Thị Cương

- Thư ký phiên toà: Bà Anh Thị Thanh Tâm - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà: Ông Dương Đức Thiên - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HS ngày 05/12/2023 đối với bị cáo:

Lò Xín S; tên gọi khác: không; sinh năm 1990 tại huyện Q, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn K, xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Khái M (đã chết) và bà Thào Thị M1, sinh năm 1963; vợ là Vù Thị C, sinh năm 1991 và 04 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2020; nhân thân: không; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Thị H - Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt.

- Người bị hại:

Chị Lò Thị C1, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị Lan H1 - Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt.

2

- Người làm chứng:

Bà Thào Thị M1, chị Vù Thị C. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Anh Giàng Dũng N, anh Lò Sín P. Vắng mặt.

Anh Sùng Chính M2. Có mặt.

Người phiên dịch:

Bà Vương Thị H2; Địa chỉ: Tổ B thị trấn T, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 19/6/2023 chị Lò Thị C1, sinh năm: 1983, trú tại thôn T, xã T, huyện Q, tinh H cùng chồng là anh Sùng Chính M2, sinh năm: 1982 đi xe mô tô biển kiểm soát 23L1-013.65 sang thăm mẹ đẻ của C1 là bà Thào Thị M1, sinh năm: 1963, trú tại thôn K, xã N, huyện Q, tinh H. Khi C1 và M2 vào nhà bà M1 ngồi nói chuyện được khoảng 03 phút thì bị cáo Lò Xín S, sinh năm 1990, trú tại thôn K, xã N, huyện Q là em trai của C1 cũng đi vào nhà bà M1 nói chuyện, lúc đó S đang trong tình trạng say rượu. Trong lúc nói chuyện Cháu có nhắc nhở bị cáo Sì là "mẹ đang ốm tại sao em không chăm sóc mẹ mà suốt ngày uống rượu say," bị cáo S có trả lời “mẹ chết còn có rượu uống.” Sau đó giữa bị cáo S và C1 có xảy ra cãi chửi nhau, bị cáo S có lấy tay chỉ vào mặt và cầm ống điếu vụt vào đùi chân trái của Cháu 02 phát, do bị S đánh nên C1 có giật được ống điếu vụt trả lại vào chân của bị cáo S và lấy tay đẩy Sì ngã xuống đất, khi bị ngã bị cáo S có đứng dậy nhặt ghế để đánh Cháu nhưng Sùng Chính M2 đã kịp thời can ngăn không cho S dùng ghế đánh C1, M2 giật ghế để xuống đất và yêu cầu S đi về nhà, nhưng S không nghe, S và C1 tiếp tục giằng co nhau kéo ra ngoài sân trước cửa nhà bà M1 và sân nhà của bị cáo S, trong lúc giằng co Cháu có nhặt lại cái ghế gỗ của S ném trúng chân Sì. Sau đó S và C1 tiếp tục giằng co nhau, S có lấy được một thanh củi khô dài khoảng 1,5m, đường kính khoảng 05cm dựng ở trước cửa nhà của bị cáo S vụt một phát vào đùi chân trái của C1, khi bị vụt Cháu có tước được thanh củi trên tay S, C1 dùng thanh củi chọc vào mặt và ngực của Sì 02 phát. Sì và C1 tiếp tục giằng co nhau, S có túm tóc của Cháu dúi xuống đất, khi đó C1 có nhặt được ghế gỗ vụt một phát vào đầu của S, khiến đầu S chảy máu nên S mới thôi không túm tóc của C1. Sì đi vào trong nhà lấy một con dao quắm ( dao dài khoảng 60cm) ra vung chém 02 phát về phía người Cháu, nhưng do M2 dùng một cái cuốc bướm (cán cuốc làm bằng gỗ, cuốc dài khoảng 90cm) giơ lên đỡ nên Sì chém không trúng, S tiếp tục giơ dao lên chém phát thứ ba trúng vào cổ tay phải của C1 dẫn đến thương tích. Sau khi bị chém Cháu đã cùng M2 bỏ trốn đi ra phía đầu nhà của bà M1, lúc đó bà M1 có lấy một áo sơ mi màu trắng và khăn ra băng bó vết thương cho C1. Sau khi băng bó vết thương xong Cháu cùng chồng trốn xuống dưới đường trước cửa nhà bà M1, thì có gặp anh Giàng Dũng N, sinh năm: 1974 và Lò Xín P1, sinh năm: 1987 cùng trú tại thôn K, xã N. N đã dùng xe máy chở C1 đưa đi cấp cứu tại Trạm y tế xã N và được chuyển tuyến ra Bệnh viện đa khoa huyện Q để điều trị.

Khi gây thương tích xong bị cáo S có đi tìm Cháu để đánh tiếp nhưng không tìm thấy nên S đã dùng dao (chiếc dao vừa dùng chém Cháu) đập phá xe moto Biển kiểm soát 23L1-013.65 của Sùng Chính M2, S dùng dao chém vào phần đầu, càng và bánh trước của xe, sau đó S tiếp tục đẩy xe đổ xuống bãi nương ở duới bờ đường đi lên nhà S, dẫn đến xe bị hư hỏng một số bộ phận như sau: Bánh trước gồm có vỏ lốp, săm, vành, nan hoa; Càng thụt phía trước; Ốp nhựa phía sau đồng hổ báo tốc độ; Cần gáo gương bên phải, bên trái. Sau khi đập phá xe mô tô biển kiểm soát 23L1-013.65 xong Sì cầm dao đi về nhà ngủ cho đến khi lực lượng chức năng đến làm việc.

Ngày 04/7/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Quyết định số 16/QĐ-ĐTTH T -Bộ C3 giám định gen đối với chiếc áo sơ mi thu tại hiện trường và dao quắm do bị cáo S giao nộp. Tại bản kết luận giám định số 5014/KL-KTHS, ngày 03/8/2023 V -Bộ C3 kết luận:

  • + Trên con dao ( Ký hiệu M1) có bám dính máu người, không xác định được kiểu gen (AND) từ dấu vết máu người này do lượng dấu vết máu ít và chất lượng dấu vết kém;
  • + Trên chiếc áo ( Ký hiệu M2) có bám dính máu của Lò Thị C1.

Ngày 04/7/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Yêu cầu định giá tài sản số 22/YC-ĐTTH đề nghị Hội đồng định giá thường xuyên trong TTHS huyện Quản Bạ tiến hành định giá tài sản đối với phụ tùng xe moto BKS 23L1-013.65 do Sì làm hư hỏng. Ngày 11/7/2023 Hội đồng định giá thường xuyên trong TTHS huyện Quản Bạ có Kết luận số 13/KL-HĐĐGTXTTTHS như sau: Tổng giá trị của tài sản bị hư hỏng có giá trị là 1.830.000 đồng.

Ngày 01/8/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Quyết định trưng cầu giám định số 23/QĐ-ĐTTH trưng cầu Viện pháp y Quốc gia giám định thương tích của Lò Thị C1. Ngày 21/8/2023 V1 có văn bản số149/23/KLTTCT-PYQG Kết luận như sau: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 21 % (hai mươi mốt phần trăm).

Tại Bản cáo trạng số 16/CT-VKSQB ngày 02/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Lò Xín Sì về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Lò Xín S, phạm tội Cố ý gây thương tích.

Về hình phạt:

Áp dụng đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò X Sì từ 32 tháng đến 36 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm. Giao bị cáo Lò X Sì cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang có trách nhiệm giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Lò X Sì có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, truy tố bị hại Lò Thị C1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) là tiền viện phí và thiệt hại về sức khỏe. Ngày 03/10/2023 bị cáo Lò Xín S đã bồi thường toàn bộ số tiền trên. Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) do vết thương ảnh hưởng lâu dài đến sinh hoạt của bị hại Cháu, bị cáo nhất trí bồi thường tiếp số tiền 5.000.000 đồng. Thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa không trái quy định của pháp luật, cần áp dụng Điều 584, Điều 585 Bộ luật dân sự công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại.

Về vật chứng:

Căn cứ khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) điếu cày bằng cây tre bị vỡ, nứt mới ở phần chân ống điếu, điếu có chiều dài 52cm, đường kính 5,6cm; 01 (một) áo sơ mi dài tay (dạng áo trẻ em), trên áo có bám dính nhiều chất dịch ẩm ướt, màu nâu đỏ (nghi máu); 01 (một) thanh củi khô, tròn có kích thước dài 149cm, đường kính 05cm; 01 (một) con dao quắm, cán dao làm bằng gỗ, dao có kích thước (61x6,7)cm; 01 (một) ghế gỗ có kích thước (37x15x11)cm, ghế cũ đã qua sử dụng.

Về án phí:

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Đề nghị miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và dân sự có giá ngạch cho bị cáo.

- Bị cáo Lò Xín S nhất trí với nội dung bản cáo trạng. Vì bị cáo uống nhiều rượu, không làm chủ được bản thân nên đã có lời lẽ không đúng với chị C1 dẫn đến hai bên xô sát và bị cáo đã chém vào tay của bị hại gây thương tích là 21%. Bị cáo đã nhận ra lỗi lầm, kính mong Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất đối với bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo Lò Xín S nhất trí với tội danh, điều khoản mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo, bị cáo đã phạm tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Lò Xín S là người dân tộc thiểu số, đã bỏ học từ năm lớp 6 nên trình độ nhận thức còn hạn chế, hoàn cảnh của bị cáo rất khó khăn, vợ bị cáo mới sinh con thứ 5 nên gia đình không có người lao động chính. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại theo như phía bị hại yêu cầu. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ phần nào hình phạt đối với bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt thấp nhất trong khung hình phạt, nhưng cho hưởng án treo. Về trách nhiệm dân sự Trong quá trình điều

tra, truy tố bị cáo và bị hại đã thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại là 20.000.000 đồng và bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại. Tại phiên tòa bị cáo tiếp tục thỏa thuận với bị hại bồi thường thêm số tiền 5.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về trách nhiệm dân sự trong vụ án.

- Bị hại chị Lò Thị C1 trình bày: Nhất trí với lời luận tội của Viện kiểm sát. Hành vi của bị cáo đã gây ra đã khiến chị bị thương tích 21%. Bị hại cũng xác nhận do không kiềm chế được bản thân đã có to tiếng với em mình là Lò Xín S, khi bị S dùng điếu cày bằng gỗ đánh vào đùi của mình, bị hại cũng không giữ được bình tĩnh nên đã có những hành động kháng cự lại bị cáo. Khi được chồng là anh M2 can ngăn để S đi về nhà, bị hại tiếp tục có hành động dùng ghế ném về phía bị cáo S và cầm ghế đập vào đầu S dẫn đến S đã không kiềm chế được bản thân đã vào nhà lấy dao ra chém bị hại dẫn đến thương tích 21% trên cơ thể. Bị hại đã thỏa thuận với bị cáo mức bồi thường thương tích là 20.000.000 đồng và bị hại đã bồi thường đầy đủ. Tại phiên tòa bị hại đề nghị bị cáo S bồi thường thêm số tiền 5.000.000 đồng do thương tích của S gây ra ảnh hưởng đến việc chị sinh hoạt, lao động hàng ngày, bị cáo S đã nhất trí thỏa thuận và xin lỗi bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Nhất trí với lời luận tội của Viện kiểm sát. Hành vi của bị cáo tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự, đã dẫn đến thương tích 21% trên cơ thể bị hại, làm ảnh hưởng lâu dài đến việc lao động hàng ngày của bị hại. Cần thiết phải có một mức hình phạt đủ tính răn đe đối với bị cáo, nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã nhất trí bồi thường thêm số tiền 5.000.000 đồng cho bị hại đồng thời xin lỗi bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt như vị đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, cơ quan Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa vắng mặt những Thào Thị M1, Vù Thị C đều có đơn xin xét xử vắng mặt và cam đoan những lời khai trong quá trình điều tra là tự nguyện và đúng sự việc. Người làm chứng Giàng Dũng N, Lò Sín P vắng mặt không lý do nhưng đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt này

6

không ảnh hưởng đến việc xét xử. Hội đồng xét xử thảo luận và căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.

[3] Tại phiên tòa bị cáo Lò Xín S đã thừa nhận hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang đã truy tố bị cáo. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác như biên bản xác định hiện trường, lời khai của người làm chứng, các kết luận giám định, biên bản dựng lại hiện trường có đủ căn cứ Kết luận: Khoảng 17 giờ 30 ngày 19/6/2023 tại nhà bà Thào Thị M1, sinh năm: 1963, trú tại thôn K, xã N, huyện Q, tinh H, Lò Xín S đã có hành vi dùng 01 con dao quắm (dao dài khoảng 60cm) chém 01 (một) nhát vào cổ tay của chị Lò Thị C1. Hậu quả Lò Thị C1 bị thương tích 21% ở mu bàn tay phải. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

[4] Bị cáo Lò Xín S là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi và tự mình thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, không bị người khác thuê, xúi giục, cưỡng ép, bắt buộc. Do đó, tự bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng. Với tính chất, mức độ phạm tội, hậu quả mà bị cáo đã gây ra cần có mức hình phạt tương xứng để nhằm răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật và phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả do mình gây ra. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, mặt khác bị cáo phạm tội cũng có một phần lỗi của bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Hành vi phạm tội của bị cáo cũng có một phần lỗi của bị hại, do bị cáo say rượu, bị hại có những phản kháng quá mức nên đã không giữ được bình tĩnh thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Bị cáo Lò X Sì có đủ điều kiện để được hưởng án treo nên cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo và giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo cũng đủ để răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

7

[7] Đối với bị hại Lò Thị C1: trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không yêu cầu giám định thương tích trên cơ thể do bị hại Cháu gây ra, cơ quan điều tra không điều tra, xem xét là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong thời gian khởi tố, truy tố bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000 đồng là tiền viện phí và thiệt hại về sức khỏe, bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền theo yêu cầu của bị hại. Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 5.000.000 đồng vì thương tích của bị hại do bị cáo gây ra làm ảnh hưởng đến việc lao động hàng ngày của bị hại. Bị cáo nhất trí bồi thường tiếp số tiền 5.000.000 đồng cho bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy thỏa thuận của bị hại Cháu và bị cáo là tự nguyện và đúng theo quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

[8] Về vật chứng: Trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan điều tra Công an huyện Q đã thu giữ 01 (một) điếu cày bằng cây tre bị vỡ, nứt mới ở phần chân ống điếu, điếu có chiều dài 52cm, đường kính 5,6cm; 01 (một) áo sơ mi dài tay (dáng áo trẻ em), trên áo có bám dính nhiều chất dịch ẩm ướt, màu nâu đỏ (nghi máu); 01 (một) thanh củi khô, tròn có kích thước dài 149cm, đường kính 05cm; 01 (một) con dao quắm, cán dao làm bằng gỗ, dao có kích thước (61x6,7)cm; 01 (một) ghế gỗ có kích thước (37x15x11)cm, ghế cũ đã qua sử dụng. Các vật chứng đều đã qua sử dụng và bị hỏng vì vậy cần áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy các vật chứng trên.

- Đối với chiếc xe moto BKS 23L1-013.65 của anh Sùng C2 Mình. Ngày 04/7/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Yêu cầu định giá tài sản số 22/YC-ĐTTH đề nghị Hội đồng định giá thường xuyên trong TTHS huyện Quản Bạ tiến hành định giá tài sản đối với phụ tùng xe moto BKS 23L1-013.65 do Sì làm hư hỏng. Ngày 11/7/2023 Hội đồng định giá thường xuyên trong TTHS huyện Quản Bạ có Kết luận số 13/KL-HĐĐGTXTTTHS như sau: Tổng giá trị của tài sản bị hư hỏng có giá trị là 1.830.000 đồng, chưa đủ định lượng để khởi tố vụ án theo tội danh Hủy hoại tài sản. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe moto cho anh M2 và không khởi tố vụ án là đúng quy định pháp luật.

[8] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Áp dụng đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, 585 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố:

    Bị cáo Lò Xín S phạm tội Cố ý gây thương tích.

  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Lò X Sì 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Lò X Sì cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang có trách nhiệm giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Lò X Sì có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

  3. Về trách nhiệm dân sự:

    Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo, bị hại về mức bồi thường về sức khỏe. Bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Về vật chứng:

    Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) điếu cày bằng cây tre bị vỡ, nứt mới ở phần chân ống điếu, điếu có chiều dài 52cm, đường kính 5,6cm; 01 (một) áo sơ mi dài tay (dáng áo trẻ em), trên áo có bám dính nhiều chất dịch ẩm ướt, màu nâu đỏ (nghi máu); 01 (một) thanh củi khô, tròn có kích thước dài 149cm, đường kính 05cm; 01 (một) con dao quắm, cán dao làm bằng gỗ, dao có kích thước (61x6,7)cm; 01 (một) ghế gỗ có kích thước (37x15x11)cm, ghế cũ đã qua sử dụng.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Q, tỉnh Hà Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang ngày 02/11/2023).

  5. Về án phí:

    Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và dân sự có giá ngạch đối với bị cáo Lò Xín S.

  6. Về quyền kháng cáo:

    Báo cho bị cáo, bị hại biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HG;
  • - VKSND tỉnh HG;
  • - VKSND huyện QB;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện QB;
  • - Sở tư pháp;
  • - Chi cục THA huyện QB;
  • - UBND xã Nghĩa Thuận;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Đình Vĩ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 16/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 17 giờ 30 ngày 19/6/2023 tại nhà bà Thào Thị M1, sinh năm: 1963, trú tại thôn K, xã N, huyện Q, tinh H, Lò Xín S đã có hành vi dùng 01 con dao quắm (dao dài khoảng 60cm) chém 01 (một) nhát vào cổ tay của chị Lò Thị C1. Hậu quả Lò Thị C1 bị thương tích 21% ở mu bàn tay phải
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger